|
|
|
MỤC LỤC Tiếp 
Lời Giới Thiệu
Phạm Công Thiện
Albert Einstein chết ngày 18 tháng 4 năm 1955 tại Princeton; ngày 21 tháng 3 năm ấy, khoảng 4 tuần lễ trước khi chết, Einstein viết thư chia buồn với gia đình Besso về cái chết của người bạn thân của ông:
“Bây giờ đến lúc anh ấy đã ra đi trước tôi đôi chút khi xa lìa cái thế gian kỳ lạ này. Điều này không đáng kể gì cả. Đối với anh ấy và đối với tôi, những vật lý gia quyết tín thì cái việc phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ có ý nghĩa quan trọng là một ảo tưởng bướng bỉnh, một ảo tưởng ngoan cố mà thôi.” (Albrecht Foslsing,
Albert Einstein, trang 741 và 819 trang: “Now he has preceded me a little by parting from this strange world. This means nothing to us believing physicists the distinction between past, present, and future has only the significance of a stubborn illusion.” (to Vero and Bice Beno, Princeton, March 21, 1955, in Besso: Albert Einstein-Michael Besso, Correspondance 1903-1955, cd. Pierre Speziali, Paris, 1972, trang 538).
Đây là bài học vĩ đại nhất mà nhà đại thông thái Albert Einstein đã dạy lại chúng ta trước khi ông chết:
“Sự phân biệt giữa thời quá khứ, thời hiện tại và thời tương lai chỉ có nghĩa là một
ảo tưởng ngoan cố…a stubborn illusion.”
Trong suốt thời gian dài cả chục năm, tôi ở tại chùa Diệu Pháp tại Montery Park, California ở Mỹ, ngôi chùa nổi tiếng mà Thượng Tọa Thích Viên Lý làm viện chủ sáng lập và tôi đã có mặt ở đó ngay từ những ngày đầu tiên nghèo cực, câu nói của Einstein về ảo tưởng thời gian đã ám ảnh tôi một cách liên tục và một cách dữ dội đến nỗi tôi đã chép câu ấy trong một sổ tay bỏ túi để đọc lại trong lúc bước lên và bước xuống đỉnh đồi xinh đẹp ở công viên thành phố sát cạnh bên chùa Diệu Pháp.
Thời gian cả chục năm ấy, một hôm, tôi tình cờ thấy một tiệm sách chữ Tàu ở thành phố Monterey Park có bán bản dịch chữ Tàu quyển
A Brief History of Time của nhà đại thông thái khác, tên là Stephen W. Hawking, được nhiều người coi như là một Albert Einstein khác của hậu bán thế kỷ XX; tôi vội mua liền bản dịch chữ Tàu và hí hửng vui sướng đem về chùa Diệu Pháp để tặng Thượng Tọa Viên Lý. Sau đó, tôi cũng tặng Thượng Tọa bản nguyên tác chữ Anh. Một hôm, tôi bàn với Thượng Tọa cùng nhau dịch chung quyển sách của Hawking; từ ngày ấy đếm cho đến ngày này thì trên cả chục năm trôi qua, tôi không làm ra hồn gì cả, tôi cũng chẳng dịch một chữ nào của Stephen W. Hawking, Thượng Tọa Viên Lý thường từ bi cười với tôi rằng tôi đã “bán cái” Hawking cho Ngài.
Thượng Tọa Viên Lý đã viết, đã dịch và đã xuất bản mấy chục quyển sách thuộc loại khó hiểu nhất, bằng cả hai thứ tiếng, chữ Anh và chữ Việt; tôi đã được hân hạnh quen biết Thượng Tọa Viên Lý ở nhiều mặt trong đời sống thường nhật ở chùa Diệu Pháp và trong sinh hoạt quốc tế qua sự phụng sự Đạo Pháp và Dân tộc của Thượng Tọa; từ bước đầu không một đồng xu trong túi cho đến ngày hôm nay, Thượng Tọa đã dựng lên ba ngôi chùa to lớn và nổi tiếng tại California ở Mỹ Quốc, đó là chưa kể cái việc Thượng Tọa đã sáng lập ra học viện mang tên, Việt Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới; viện T.L.V.N.T.H.T.G. này đã được tạo dựng trên 10 năm nay và đã xuất bản trên 50 quyển sách nổi tiếng về Triết Học và Phật Học và Đạo Học v.v…
Quyển A Brief History of Time của Stephen W. Hawking đã bán trên 22 triệu quyển ở khắp thế giới và đã được dịch trên 35 thứ tiếng.
Tôi nhớ đâu đó tác giả nói rằng ai đọc hiểu quyển này thì sẽ có trình độ hiểu biết về Vật lý học ngang hàng với một kẻ đậu tiến sĩ Vật lý học. Mặc dù tác giả đã cố gắng viết một cách phổ thông dễ hiểu, nhưng quyển A Brief History of Time không phải dễ hiểu như lúc mình mới đọc sơ qua. Trên 10 năm qua, tôi đã được dịp đọc lại nhiều lần quyển sách của Hawking và thấy rằng:
“Thấy như thế mà không phải chỉ là như thế”, đúng như lời của Hawking:
“Mình không nên tin tất cả những gì mà mình đọc” (You shouldn’t believe everything you read”). Có thể hiểu câu nói trong hai nghĩa tích cực và tiêu cực!
Bị các bác sĩ coi như sẽ chết lúc mới ngoài 22 tuổi bị cái bệnh nan y, tên là
motor neurone disease, không đi được và không nói được và bị tê liệt gần như toàn thân, Stephen Hawking chỉ còn có bộ óc là không bị cơn bệnh phá hoại và ông đã sử dụng bộ óc não của ông một cách sáng tạo, một cách phi thường và một cách thần diệu đến nỗi ông trở thành nhà thông thái vĩ đại, nhà vật lý học siêu phàm, nhà vũ trụ học siêu đẳng của cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Mới cách đây gần 2 tuần, ngày 8 tháng giêng, 2002, khắp thế giới, báo chí có loan tin về sinh nhật 60 năm của Stephen Hawking, người ta cho rằng ông là người duy nhất đã vẫn còn sống cho đến 60 tuổi, dù mắc bệnh
motor neurone (theo các bác sĩ thì đáng lẽ ông đã chết lúc khoảng ngoài 20 tuổi).
Người ta cho rằng sở dĩ ông còn sống được là do sức mạnh phi thường của óc não, của trí tuệ, của tinh thần, của sức tập trung tư tưởng vĩ đại. Đây là bài học của Hawking gửi lại cho chúng ta: dù sống trong bất cứ hoàn cảnh bi đát khó khăn nhất, chúng ta vẫn đạt tới được những điều vĩ đại nhất mà ít có ai đạt tới được.
Nói như thi hào Rainer Maria Rilke: “Mười năm hay vài chục năm có là bao lâu…” (Tôi chỉ nhớ đại loại như vậy và chưa hẳn trích dẫn đúng chữ, nhưng đại ý là thế), vì chiến thắng sự thất vọng và tuyệt vọng trong nghĩa thời gian tầm thường của người đời mà Hawking đã thể nhập cái ảo tưởng ngoan cố của sự phân biệt thời gian do Einstein khai phát và từ đó Hawking trở thành “Bậc Thầy của Vũ Trụ” (“Master of the Universe: Stephen Hawking”. BBC truyền thông 1989).
Một trăm năm đời người có là bao lâu đâu, vì sự phân biệt thời gian chỉ là “ảo tưởng ngoan cố”; thời gian chỉ qua mau đối với những người không quen tập trung tinh thần, không quen tập trung tư tưởng. Đối với người quen sống thường xuyên với Định lực của sự tập trung tinh thần và sự tập trung tư tưởng thì mỗi giây phút không còn chỉ là một giây phút, không còn có điều kiện giới hạn, không còn có biên giới và toàn thể vũ trụ cũng không như thế, nói như Hawking: “Điều kiện giới hạn, hữu biên của vũ trụ là vũ trụ không có giới hạn, tức là vô biên” (A Brief History of Time, trang 136:
“The boundary condition of the universe is that it has no boundary”)
Muốn hiểu câu trên thì cần đọc lại trọn vẹn quyển A Brief History of Time nhiều lần. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu câu trên trong ý nghĩa thường tình: “Hữu biên chính là vô biên” hay “hữu hạn chính là vô hạn”. Cũng thế, chúng ta có thể hiểu câu nói của Einstein theo nghĩa bình thường: “Ảo tưởng lì lợm” chính là sự thực và sự thực chính là ảo tưởng v.v…
Sự thực của khoa học cũng là ảo tưởng lì lợm?
Từ Einstein cho đến Hawking, tất cả những nhà khoa học ̣đúng nghĩa đều tập trung tư tưởng, tập trung thần trí vào cái ảo tưởng lì lợm, cái ảo tưởng ngoan cố về sự phân biệt thời gian.
Thời gian không có thực, nhưng trong mười năm nay, Thượng Tọa Viên Lý đã tập trung thiền lực và định lực để làm vài ba sự việc ít ai làm được: đã dịch hai tác giả khó hiểu nhất của nhân loại, một người mang tên là
Long Thọ (Nagarjuna) và một người mang tên là Stephen Hawking; một bên là cái khó khăn nhất của Đạo học Đông-phương và một bên là cái khó khăn nhất của Khoa học Tây-phương.
Chỉ nội nỗ lực vĩ đại truyền đạt hai cái khó khăn nhất của Phật học và Khoa học, Thượng Tọa Viên Lý đáng được chúng ta hết lòng ngưỡng mộ; đó là chưa nói đến sự khiêm tốn thường xuyên, lòng kiên nhẫn vô hạn và cái hạnh Bồ tát liên tục của Thượng tọa Viên Lý, bao nhiêu điều không dễ thực hiện trong hàng Tăng sĩ lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam và Phật Giáo thế giới trong mấy chục năm gần đây.
Gold Coast, Úc châu, ngày 21 tháng 1, 2002
Phạm Công Thiện
MỤC LỤC Tiếp 
|
|
|