Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
 
ENGLISH  | Trang Chủ | Truyền Hình | Pháp Âm | Thư Viện  | Tin Tức Phật Giáo  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE


Tịnh Độ
Giáo Lý Căn Bản
Phật Giáo & Xã Hội
Phật Giáo & Văn Hóa
Nhân Sinh Quan PG
Truyện Ngắn
 
 
 
 
 
 
 
 

QUY Y TAM BẢO VÀ LỤC ĐỘ BA LA MẬT
Thích Huệ Hải - Nhật Bảo Quốc dịch

                                                            Xem bản English                                                       


Bài giảng hôm nay của Thầy Huệ Hải được rút từ bộ sách “Bồ Tát Đạo” của Ngài Shantideva, một vị tổ sư Ấn Độ vào thế kỷ thứ 9. Trước hết Thầy giảng về Quy Y (Nương Tựa), là bước đầu tiên trên con đường theo Phật (Phật Đạo), và sau đó Thầy sẽ giảng về Lục Độ Ba La Mật (Sáu Hạnh Toàn Hảo): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và sau cùng là trí tuệ.

Như Thầy vừa mới nói, việc thực hành đầu tiên của người Phật Tử là quy y. Đây có nghĩa là nương tựa vào Đức Phật là bậc thầy, Phật Pháp là sự chỉ dạy của ngài, và Tăng Già là đoàn thể những đệ tử đã chứng ngộ của Đức Phật. Trong tiếng Anh, đôi khi từ ngữ cuối, (Sangha) Tăng Già, có thể trở nên khó hiểu. Theo truyền thống, từ ngữ Sangha có thể đề cập tới điều trân quý thứ ba trong Tam Bảo, là những đệ tử đã chứng ngộ của Đức Phật hay là nó cũng có thể đề cập đến đoàn thể của tăng và ni. Tuy nhiên, trong những trung tâm Phật Pháp Hoa Kỳ (American Dharma Centers) thì nó thường được dùng để chỉ cộng đồng tại trung tâm đó, cho dù đã có tăng hay ni nào ở trong đoàn thể đó hay không. Chúng ta không thể nào nương tựa vào bạn bè chúng ta trong trung tâm Phật Pháp đó, dẫu cho, theo định nghĩa là nương tựa vào những nhân vật không giác ngộ không phải là lối quy y, nương tựa của người Phật Tử. Với những người không phải là Phật Tử, ở Hoa kỳ phần lớn họ là người theo Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể gọi là cách quy y là “rửa tội theo Phật Giáo”.

Thứ Nhất, quy y là ngưỡng cửa tiến đến Phật Pháp -- là sự chỉ dạy hay sự giải thích sự thực của Đức Phật. Nếu quý vị muốn đi nghỉ ngơi ở Hawaii hay bên Pháp, có lẽ quý vị phải tìm hiểu trước những gì mình có thể làm được khi đến đó và nó sẽ kỳ diệu như thế nào. Quý vị cũng có thể mua bản đồ và hành lý mới cho chuyến đi, và thăm dò giá vé. Tuy nhiên, nếu quý vị không thực sự bước lên tàu, thì quý vị sẽ chẳng bao giờ đến đó. Vì vậy, quy y cũng giống như bước lên máy bay vậy.

Thứ hai, quy y là căn bản của mọi giới luật và thệ nguyện. Chỉ là quý vị không thể mang trên mình tấm áo cà sa rồi tự cho mình là tăng hay ni được nếu không có thọ giới luật, quý vị không thể nào thọ giới tu Phật mà không quy y trước. Bạn cũng thọ Bồ Tát Nguyện -- là sự thệ nguyện đạt đến sự giác ngộ vì lợi ích cho tất cả chúng sanh -- mà không thọ quy y trước đó.

Thứ ba, quy y là nguồn căn của các phẩm hạnh cao quý vì Đức Phật và các vị Bồ Tát đều đã có những phẩm hạnh cao quý toàn hảo. Qua sự quy y chúng ta đã đặt mình trên con đường phát triển những phẩm hạnh cao quý giống vậy.

Cuối cùng, có điều khác biệt giữa người Phật Tử và người không-Phật Tử. Thọ quy y là điều tối thiểu cần thiết để gọi mình là Phật Tử. Nếu Thầy đi Việt Nam và nói mình là người Việt Nam để xin sổ thông hành, thì chính phủ ấy sẽ không cấp cho Thầy, phải không? Dĩ nhiên là không rồi! Trước hết Thầy phải trải qua tiến trình để trở thành công dân của một nước. Vì vậy, quy y là những gì cần thiết để một người được chính thức là Phật Tử.

Nguyên nhân để quy y là niềm tin tưởng, một trong ba loại niềm tin, đức tin. Niềm tin thứ nhất được gọi là niềm tin sinh động hay niềm tin ngưỡng mộ mà trong đó chúng ta cảm kích sâu đậm về những phẩm cách của Đức Phật và các đệ tử của ngài, những khó khăn mà họ đã trải qua và có lẽ những điều kỳ diệu mà họ thực hiện. Tuy nhiên, nếu chúng ta đứng nhìn từ xa và nghĩ rằng đó là điều tốt, điều hay, hoặc gì đi nữa, mà chúng ta không thực sự theo đuổi suốt những gì mà chúng ta ngưỡng mộ, thì sự ngưỡng mộ đó không đưa đến đâu cả. Cho nên không có ích lợi gì chỉ có ngưỡng mộ Đức Phật và các vị đệ tử của ngài. Có rất nhiều người phương Tây có ấn tượng rất tốt đối với Đức Phật và các Phật Tử, tuy nhiên họ không đi quy y và thực hành Phật sự. Họ có thể được gọi là có niềm tin ngưỡng mộ. Dĩ nhiên, có người với niềm tin ngưỡng mộ, rồi họ quy y và trở thành người Phật Tử, nhưng sau đó họ không theo suốt, thực sự học và thực hành Phật Pháp.

Kế đến là niềm tin thiết tha hay niềm tin nhiệt thành. Niềm tin này được định rõ bằng chí nguyện là nếu chúng ta thực hành Phật Pháp thì trong tương lai chúng ta cũng sẽ đạt đến trí tuệ vĩ đại và giống như những vị Bồ Tát trong những câu chuyện mà chúng ta đã nghe. Chúng ta cũng có thể nghe về những điều kỳ diệu của cõi Cực Lạc, thế giới Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà, và nguyện vãng sanh về đó. Đây là niềm tin nhiệt thành.

Cuối cùng, niềm tin thâm sâu hay niềm tin trông cậy. Niềm tin này qua thời gian chúng ta học nhiều về Phật Pháp. Đây là niềm tin mà trong đó chúng ta thấy rằng Đức Phật và giáo pháp của ngài là điều đạo đức và đáng giá để mở rộng mà chúng ta muốn học và đem ra thực hành. Đây là niềm tin dựa vào sự hiểu biết điều gì trong Phật Pháp và thấy điều này chân chánh và có ích lợi. Đây không phải là niềm tin mù quáng chúng ta tin vào mà không suy nghĩ về những gì đã học hay trong đó chúng ta tin điều gì chỉ vì chúng ta cần điều gì để tin vào. Niềm tin sau cùng này -- là niềm tin thâm sâu -- nó đưa chúng ta chính thức trở thành người Phật Tử bằng cách quy y. Nhưng nó cũng giúp chúng ta tiếp tục theo đuổi bằng cách học Phật Pháp và mang ra thực hành sau khi chính thức quy y.

Thực sự có bốn loại niềm tin gọi là niềm tin bất thối chuyển hay không thối lui, trong đó chúng ta cứ tiếp tục sống trong Phật Pháp bất kể mọi chướng ngại mà chúng ta phải đối đầu. Tuy nhiên, niềm tin cuối cùng nêu trên được xếp vào niềm tin thâm sâu.

Cốt lõi của sự quy y là sự công nhận rằng Phật, Pháp và Tăng, trên thực tế, là đối tượng đáng tôn kính và ngưỡng vọng, và bằng cách quy y qua những đối tượng này, người ta có thể đạt tới sự chấm dứt khổ đau, và tối thượng, người ta trở thành một vị Phật giác ngộ viên mãn cho mang sự lợi lạc cho mọi chúng sanh. Quy y có nghĩa là chúng ta đi đến Tam Bảo như là nguồn căn của sự gia hộ chống lại sự khổ đau. Đức Phật và Tăng Già không có thể lấy đi một cách thần kỳ nào sự si mê của chúng ta, là nguồn căn của đau khổ. Thay vào đó, Đức Phật và các vị đệ tử đã chứng ngộ của ngài, mà chúng ta gọi là Tăng Già, giúp cho những chúng sanh si mê nương tựa bằng cách dạy dỗ Phật Pháp.

Như quý vị đã nghe nhiều lần, chúng ta, tất cả đều có Phật Tánh trong chúng ta (chân tánh của chúng ta) không khác gì với một vị Phật giác ngộ viên mãn. Sự thực hành Phật Pháp chỉ đơn giản là khai mở ra Phật Tánh đó. Đây là sự biểu hiện toàn hảo của trí tuệ và từ bi. Qua sự khai mở Phật Tánh, chúng ta mới vượt qua sự si mê của mình và chấm dứt sự bất toại nguyện và khổ đau mà chúng ta trải qua trong vòng sanh, già, bệnh và chết.

Quy y cũng có hai loại. Thứ nhất được gọi là Nhân Quy Y Tạm Thời mà trong đó chúng ta nương tựa vào Tam Bảo là đối tượng bên ngoài để quy y. Sau đó đưa tới Quả Quy Y Tối Thượng mà trong đó chúng ta nương tựa vào Tam Bảo là đại diện cái bản ngã tương lai của chúng ta bởi vì chúng ta trọn quyết tâm vào sự thức tỉnh, và chính chúng ta trở thành một vị Phật toàn giác. Loại quy y trước, trong đó chúng ta không tin tưởng vào Phật Tánh của mình và vì vậy chúng ta cần tìm bên ngoài sự trợ giúp và an ủi. Tuy nhiên, đây chỉ là tạm thời bởi vì rốt cùng nó phải mở đường cho loại quy y thứ hai, mà trong đó chúng ta có sự tin tưởng vào Phật tánh của mình và trong đó chúng ta thực sự quyết tâm đạt tới giác ngộ giải thoát. Gọi là nhân là bởi vì nó khiến cho ta đeo đuổi Phật Pháp và vì vậy đưa chúng ta đến quả, là Quả Quy Y Tối Thượng. Quả Quy Y Tối Thượng là tối thắng là vì không có gì hơn sự quy y này. Sự quy y gọi là gọi là quả là bởi vì nó nương tựa vào quả của sự đeo đuổi con đường mà Đức Phật chỉ dạy là Phật Đạo của tự chính chúng ta và bởi vì nó đưa đến quả vị đó.

Là Phật Tử có nghĩa người ấy cũng đã xuất gia (buông bỏ). Sư buông bỏ này phát sinh từ sự hiểu biết rằng chấp trước (ràng buộc) vào những sự hạnh phúc tạm thời của thế gian (samsara) không thể mang lại hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc tối thắng, toàn hảo, trọn vẹn, lâu dài không thể tìm thấy trong những điều tạm bợ. Thật ra, sự ràng buộc như vậy gây nên khổ đau vì cố gắng của chúng ta để đạt hạnh phúc luôn luôn là không đủ. Chúng ta cố gắng mang đến cho mình những lạc thú, tiền bạc, v.v. nhưng niềm sung sướng mà những thứ này mang đến, nếu là hạnh phúc, thì cũng chỉ là tạm thời. Như giàu có về vật chất, nếu chúng ta có, thì chúng ta lo lắng về sự mất mác nó và thấy rằng những gì mà mình có vẫn chưa đủ để vượt qua sự thỏa mãn của mình và chúng ta thường cảm thấy mình cần thêm nữa. Chúng ta giống như những kẻ nghiện thuốc, luôn luôn chích mũi kim vào cánh tay trong sự cố gắng vô ích để vượt thắng sự bất toại ý và khổ đau của mình, mà lại dùng ngay cái vật gây ra sự bất toại ý và đau khổ. Trừ phi là sự đam mê của chúng ta có được xã hội chấp nhận hay không, hơn là sự nghiện ngập của kẻ nghiện. Buông bỏ là thấy rõ sự si mê này và cũng cạn kiệt sự đau khổ và thay vào đó, chúng ta sẽ quay lưng với những nguyên nhân của khổ đau và hướng về Phật Pháp.

Bây giờ… nói về pratyekkabuddha (Độc Giác Phật) hay sravaka (Thanh Văn) -- là hành giả trên con đường giải thoát chính mình -- thì không đi quá sự xuất gia, xuất thế gian (buông bỏ). Tuy nhiên, xuất thế gian không đủ đối với con đường của Phật Giáo Đại Thừa. Người ta cần phải gieo trồng hạt giống từ bi một cách rộng lớn -- qua sự hiểu biết rằng chúng sanh đau khổ và chúng ta cảm nhận một cách mạnh mẽ rằng cần phải làm điều gì về sự đau khổ đó. Vì vậy, xuất gia là mang tính chất không muốn đau khổ cho chính mình, mà với lòng từ bi là cũng không muốn chúng sanh khác đau khổ.

Có hai cách rèn luyện đặc biệt và thông thường cho những ai thọ quy y. Qua sự rèn luyện thông thường, điều thứ nhất là không bao giờ thay lòng đối với Tam Bảo dù được tặng phẩm vật hay bị hăm dọa mạng sống. Nếu có người nào nói, “Ta sẽ cho ngươi một triệu đô la nếu bỏ Phật Pháp,” hay “Nếu ngươi không bỏ Phật, Pháp và Tăng, thì ta sẽ giết ngươi,” chúng ta phải chuẩn bị câu trả lời là “Không.” Một triệu đô la không thể nào so sánh với niềm hỷ lạc của giác ngộ giải thoát. Ngay sự chết, nếu chúng ta chết mà không giác ngộ thì chúng ta sẽ chỉ bị tái sanh và nếu chúng ta đạt giác ngộ thì chúng ta sẽ chẳng bị lôi kéo bởi nghiệp lực của mình để tiếp tục trôi lăn trong vòng sanh, già, bệnh và chết. Vì vậy, không có lợi ích gì để bỏ Tam Bảo nếu chúng ta bị hăm dọa. Bằng cứ tiếp tục hướng tâm về Tam Bảo, chúng ta cuối cùng sẽ thức tỉnh được Phật Tánh bên trong của mình và sau đó không có sự tổn hại vào đến với chúng ta.

Một cách rèn luyện thông thường khác là không quên cúng dường (phụng thờ) Tam Bảo. Chúng ta ít ra phải hướng tâm cúng dường Tam Bảo mỗi ngày. Cũng vậy, mỗi khi chúng ta nhận được vật thực gì mới, chúng ta phải cúng dường điều ấy đến Tam Bảo trước khi chúng ta thọ dụng cho mình. Đây là cách dễ nhất để tích lũy công đức.

Chúng ta cần phải tiếp tục học và thực hành Phật Pháp để tăng trưởng sự quy y của mình. Quy y không phải là điều chúng ta làm chỉ một lần và rồi quên đi. Nếu chúng ta đã thọ quy y, thì chúng ta phải tự mình quyết tâm chuyển hóa tâm của mình -- buông bỏ đi những tâm trạng làm cho chúng ta và kẻ khác khổ sở. Thay vào đó, chúng ta phải rèn luyện những tâm trạng tích cực như là từ bi và nhân ái. Điều này sẽ giúp cho chúng ta và kẻ khác bớt khổ đau và sẽ đưa chúng ta đến giác ngộ giải thoát. Là chúng sanh giác ngộ chúng ta sẽ có thể giúp đỡ nhiều cho kẻ khác.

Chúng ta cũng phải khuyến khích người khác đã có sự quan tâm đến Phật Pháp hãy theo đuổi nó, nhưng không thúc ép. Nếu niềm tin của chúng ta dựa vào sự thuyết phục kẻ khác để đức tin của mình là đúng, thì chúng ta lại có một niềm tin yếu ớt. Người mà làm phiền kẻ khác hay hăm dọa họ với lửa địa ngục cho sự không tin vào những điều đang thực sự thuyết phục chính họ rằng niềm tin của họ là chân chánh. Đây là điều bất ổn, không phải là niềm tin làm vài người hành động theo cách này.

Ngoài ra, cũng được dạy rằng bất cứ nơi nào mà chúng ta đi, chúng ta phải lễ lạy Đức Phật của hướng đó. Dĩ nhiên, chúng ta không thể lúc nào cũng lễ lạy. Vã lại khó khăn hơn trong việc lễ lạy khi lái xe. Nhưng trong tâm của chúng ta có thể luôn giữ thái độ tôn kính và ngưỡng vọng đến tất cả chư Phật.

Về những sự rèn luyện đặc biệt lại có tính bao quát hơn. Ba điều đầu liên quan đến những gì cấm kỵ. Vì vậy, thứ nhất, khi quy y Phật, chúng ta không được nương tựa vào chúng sanh nào khác với bậc giác ngộ. Cầu nguyện thổ thần, chẳng hạn, coi đây là sự quy y thường trực là trái với sự quy y Phật. Tuy nhiên, có nhiều nền văn hóa tin vào thần linh và xin họ cho phép khai quật hay động thổ để xây dựng thì không sao.

Thứ hai, khi quy y Phật Pháp, chúng ta không được làm tổn hại đến sanh vật, vả lại, chúng ta phải cố gắng bảo vệ tất cả nếu chúng ta có thể. Thay vì giết hại một con nhện, chỉ cần đơn giản bắt nó bỏ ra ngoài.

Cuối cùng, khi quy y tăng, chúng ta không được kết giao với những kẻ nói xấu về Phật Pháp và thầy tổ của mình. Riêng ý kiến của Thầy, nếu có người không thích Phật Giáo, nhưng trong lúc họ cần, chúng ta phải giúp đỡ họ và điều ấy có thể sẽ giúp họ thay đổi tâm ý của họ. Nhưng đặc biệt lúc chúng ta hãy còn mới với Phật Pháp, thì chúng ta phải tránh những người hay chê bai sự quyết định của chúng ta noi theo con đường này.

Sau đây là những rèn luyện về những gì cần được hoàn tất. Thứ nhất, khi thọ quy y Phật, chúng ta phải cư xử như thể là những tiêu biểu của Phật giống như chính Đức Phật. Cúng dường đến một bức hình hay một bức tượng của Phật không khác với công đức tích lũy khi cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni 2,500 năm trước. Chúng ta cũng không được bỏ vật thực thế gian lên trên bức ảnh hay tượng Phật, bỏ trên sàn nhà, hay bước chân lên trên ấy. Tôn tượng của Đức Phật phải được an vị nơi tương đối trong sạch và cao cả. Nếu như vị Phật thực sự bước vào nhà, quý vị không thể ném cái áo lên đầu hoặc bước lên họ, phải không? Nói tóm lại, quý vị phải đối đãi họ như một vị khách tôn quý.

Khi thọ quy y Pháp, chúng ta phải xem kính kinh sách Phật Pháp. Chúng ta phải bảo tồn và cũng không được bước lên trên kinh sách. Nếu sách Phật Pháp mà cũ và hư hại, chúng ta có thể đốt trong lúc tụng linh chú Om Mani Padme Hum. Nếu chúng ta có kinh sách mà chúng ta không cần nữa, chúng ta có thể biếu tặng cho người khác để họ có được sự lợi lạc từ đấy.

Khi thọ quy y Tăng, chúng ta phải xem những biểu tượng của vị tăng đã thọ giới xem họ như là những vị tăng đã giác ngộ của Đức Phật. Chẳng hạn, xem miếng vải cùng màu với chiếc áo vị tăng cũng giống như của những đệ tử giác ngộ của Đức Phật mang lại công đức rộng lớn. Vì vậy, dùng mảnh vải cũ từ chiếc áo của nhà sư đề làm dẽ chùi nhà có thể coi như không đúng với sự chỉ dạy này.

Nói một cách tổng quát, một khi chúng ta đã quy y chúng ta không được quên nó và trở về đời sống bình thường của mình. Chúng ta cần phải xem xét kỹ lưỡng những gì chúng ta suy nghĩ, nói năng, hành động như thế nào, và, trong khả năng tốt nhất của mình, xác định nếu chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động có theo đúng Phật Pháp hay không. Điều này không phải tư tưởng, lời nói, và việc làm đúng với Phật Pháp sẽ làm vui lòng Đức Phật, cho dù nó sẽ làm vui lòng mọi chúng sanh giác ngộ. Mà bởi vì nó là cách để chúng ta tìm được sự giải thoát khổ đau và học cách để tránh sự hảm hại đến kẻ khác. Hơn thế nữa, chúng ta cũng có thể học cách làm lợi cho những kẻ khác.

Đức Phật không dạy cho chúng ta làm những gì mà ngài nói chỉ vì ngài nói như vậy. Ngài chỉ đơn giản khám phá ra sự thật là chúng ta không toại ý và khổ sở vì do vô minh si mê và bằng cách vượt thắng sự vô minh ấy chúng ta mới có thể thoát khỏi vòng khổ sở -- sanh, già, bệnh và chết. Hơn thế nữa, một khi chúng ta vượt thắng sự si mê, chúng ta mới có thể mang lại sự lợi lạc toàn hảo đến kẻ khác.

Trên thực tế, bậc giác ngộ không ý muốn riêng tư. Họ không nghĩ, “Thôi, hôm nay ta có chút mệt nên ngồi xuống xem truyền hình một lát rồi sau đó ngủ một chút.” Bậc giác ngộ thấy sự si mê và khổ sở của chúng ta và họ chỉ mong cố gắng tìm đến và hướng dẫn chúng ta trên con đường thoát khỏi si mê và khổ não, 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày một tuần.

Tuy nhiên, bậc giác ngộ không có khả năng diệu kỳ nào để lấy đi sự si mê của chúng ta. Nếu họ có năng lực ấy, thì với lòng từ bi vĩ đại, họ đã cho tất cả chúng sanh trong mọi không gian và thời gian giác ngộ giải thoát từ vô lượng lâu xa về trước rồi. Sự thật là, chúng ta phải làm công việc khó khăn trong sự chuyển hóa tâm của mình. Tâm của mình thì chính mình phải có trách nhiệm lấy. Vì vậy, Chư Phật và Chư Bồ Tát luôn luôn đưa tay đến chúng ta, nhưng chúng ta phải chìa tay đáp lại.

Một cách tiến vào sự thực hành Phật Pháp của chúng ta là nhắm vào sự thực hành Lục Độ Ba La Mật (Sáu Hạnh Toàn Hảo): Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Tuệ. Nó được dạy rằng chúng ta cách hoàn hảo từng phần một, theo thứ tự, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải bắt đầu bằng bố thí và bỏ quên phần còn lại. Chúng ta phải cố gắng gieo trồng chúng tất cả theo khả năng của chúng ta.

Bố Thí thì rất rõ ràng. Nó là pháp đối trị lại sự ích kỷ. Chúng ta có thể bắt đầu từ việc nhỏ bằng cách cho đi những gì chúng ta không thích hoặc không muốn, có lẽ dễ dàng hơn, và sau đó chúng ta bắt đầu cho nhiều ra những gì chúng ta có. Đây không chỉ là tài sản vật chất. Mà sự thành tòan này có thể là thời gian. Làm việc tình nguyện cũng là một phần của rèn luyện hạnh Bố Thí Ba La Mật.

Trì Giới nghĩa là chúng ta cố gắng tránh làm hại kẻ khác với lời nói và hành động của mình. Tránh giết hại và tổn thương kẻ khác thì quá rõ ràng, nhưng tránh nói chuyện tầm phào, nói láo, nói xấu, nói nặng lời cũng là một phần của giữ giới. Nếu chúng ta có liên hệ với ai, chúng ta không được lừa dối họ. Ngòai ra, trộm cắp cũng phải tránh. Việc này không chỉ có nghĩa là phải tránh trộm cắp tiền bạc và vật thực, mà thời gian cũng thế. Nếu chúng ta đi làm, chúng ta phải thực sự làm việc và không được lãng phí thời gian để chúng ta lãnh lương mà không làm việc.

Nhẫn Nhục là pháp đối trị lại sự giận dữ. Giận dữ là tâm thái hủy hoại tệ hại nhất. Giận dữ có thể làm tan hoang công đức của chúng ta và là nguyên nhân chính đưa đến địa ngục. Rèn luyện hạnh nhẫn nhục bằng cách ghi nhớ rằng người ta không muốn bị hại và những kẻ hại ta cũng là những chúng sanh khổ sở cần đến lòng từ bi. Trên lãnh vực thực hành, chúng ta có thể gieo trồng hạnh nhẫn nhục bằng cách nhớ đến sự nuôi dưỡng cảm xúc xấu ác trong hoàn cảnh khó khăn chẳng giúp gì để thay đổi tình thế. Nó chỉ làm cho sự việc tệ hại hơn. Thêm nữa, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đã tạo ra nguyên nhân của cả hai việc tốt và thích ứng từ việc của chúng ta và cho cả sự đau khổ cũng tạo ra từ việc của chúng ta. Vì vậy, nếu người nào hại ta, là ta đã tạo ra nguyên nhân đưa đến sự cảm nhận bị hại. Thêm vào đó, vì ta đã tạo ra nguyên nhân cảm nhận sự bị hại, ta cũng là nhân tạo ra ác nghiệp của kẻ thù ta.

Xuất phát từ lòng từ bi, chúng ta phải ngăn chận người ta hại mình và kẻ khác. Chỉ có chúng ta làm vậy với lòng không giận dữ và ghen ghét. Chúng ta phải giữ một thái độ bình tỉnh tối đa của khả năng mình mới giúp kẻ hại mình am hiểu rằng họ đang làm sai trái và sẽ đưa đến hậu quả xấu cho chính họ. Đôi lúc chúng ta cần phải dùng lời lẽ cứng rắn. Tuy nhiên, nếu động cơ từ sự giúp đỡ thực sự thì người đó tránh được ác nghiệp, thì khi đó chúng ta mới không làm điều sai trái.

Tinh Tấn Ba La Mật được hiểu rằng chúng ta cần phải đặt tất cả mọi nỗ lực của mình vào Phật Pháp và không đeo đuổi chạy theo những sự hạnh phúc tạm bợ, việc thế gian. Dĩ nhiên, chúng ta cần tiền để sống, nhưng dùng hết cuộc đời của mình để làm việc kiếm tiền làm giàu, nhất là chúng ta nghĩ rằng mình cần phải cạnh tranh với người khác, thì không phải là sự tinh tấn chính thật. Vì vậy, chúng ta cần phải làm những gì mà chúng ta cần để sống trong thế gian này, nhưng phần lớn năng lực của mình phải là trong Phật Pháp. Những điều khác đều là phí phạm. Dĩ nhiên, không có ai trong chúng ta có đầy đủ sự cố gắng hoàn tòan. Nếu chúng ta gắng sức quá sức của mình trong điểm này mà chúng ta chưa sẵn sang, chúng ta làm cho mình không thích Phật Pháp và chúng ta bỏ cuộc. Nó là một tiến trình từ từ. Chúng ta cần phải làm càng nhiều càng tốt và sau đó chúng ta mới có khát vọng muốn toàn hảo nó và sự hoàn hảo khác theo thời gian.

Thiền Định Ba La Mật được đạt thành qua thiền. Bằng sự toàn hảo khả năng tập trung chúng ta có thể chú tâm vào bất cứ gì. Đậy là cách chúng ta có thể thiền quán về và gieo trồng lòng từ bi, chẳng hạn. Không có sự tập trung, chúng ta có thể ngồi hàng giờ thiền quán về từ bi, nhưng thực sự chỉ chú tâm có năm phút mà thôi. Tuy nhiên, đừng suy nghĩ, là chúng ta phải cố gắng thiền quán, vì chúng ta không thể làm được một cách toàn hảo ngay tức khắc! Bằng sự bắt đầu nhỏ, chúng ta mới có thể tìm cách để tòan hảo sự tập trung. Đây là cách tiếp nhận khả năng, giống như sự học xử dụng nhạc cụ hay học một ngôn ngữ mới.

Cuối cùng, Trí Tuệ Ba La Mật. Đây là nói đến sự thông suốt về tánh không. Tánh không không phải là không có gì hay hư vô. Đây là sự thấu hiểu là mọi hiện tượng là vô thường và tương quan với nhau. Chúng là sự tương quan nhân duyên mà trong đó chúng được thành hình nhờ vào những những nguyên nhân (nhân) và điều kiện (duyên). Thí dụ, một cái cây, có mặt là vì có sự có mặt của hạt giống và đất và nước và ánh sáng mặt trời và v. v. Như vậy, có nguyên nhân của sự có mặt của của đất, ánh sáng mặt trời cũng như vậy. Sự thật, chúng ta chẳng bao giờ tìm ra nguyên nhân đầu tiên. Thêm nữa, sự vật mà chúng ta nghĩ là chắc thật và không thay đổi thì thật ra là luôn luôn ở trong trạng thái thay đổi. Chúng ta chỉ luôn thấy chúng là vì nó xảy ra rất chậm, nên chúng ta thấy sai lạc là sự vật không thay đổi. Khi chúng ta thấy thay đổi, chúng ta thường đau khổ nhiều là bởi vì chúng ta không muốn chúng thay đổi. Rèn luyện quan kiến về tánh không là chìa khóa vượt thóat sự si mê và tìm ra hạnh phúc thật sự, lâu dài, trọn vẹn, toàn hảo.



Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: dieuphaptu@gmail.com