|
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
|
|
Giáo lý của Ðức Phật có ba điểm chính yếu, đó là trì giới, thiền định và trí tuệ. Trí tuệ là mục tiêu, thiền định là tiến trình cần yếu để đạt trí tuệ. Trì giới là phương tiện giúp đạt trạng thái ổn định và khi đó hành giả tự chứng ngộ trí tuệ. Toàn bộ hệ thống giáo lý Ðạo Phật được bảo tồn trong kinh điển, không bao giờ xa rời ba điểm này. Phật Giáo được bao gồm trong ba Tạng Kinh, Luật, Luận, nói về thiền định, trì giới, và trí tuệ.
Phật Giáo nói đến Niệm Phật, người ta sẽ đặt câu hỏi do đâu mà niệm Phật? Niệm Phật có lợi ích gì? Phải niệm Phật như thế nào cho đúng? đó là câu hỏi quan trọng, chúng ta cần phải biết qua, để tránh những sai lầm, chọn pháp môn thích hợp tu tập.
I. Do đâu có pháp môn niệm Phật:
Khi tu hành ai cũng muốn đạt được kết quả, đó là lẻ thường chẳng có gì lạ, lại nữa nhiều người muốn đọc kinh sách để hiểu sâu, biết rộng củng cố niềm tin, hầu tu học được tinh tấn, có nhiều người chỉ nhứt tâm niệm Phật, cho nên tìm hiểu pháp môn nầy, là điều cần thiết.
Yếu chỉ người tu pháp môn niệm Phật, là nhứt tâm niệm sáu tiếng "Nam Mô A Di Đà Phật", bất luận là đi, đứng, nằm, ngồi, để cầu vãng sanh nước cực lạc.
Những kinh điển có liên quan đến Đức Phật A Di Đà và cảnh giới Cực Lạc, đó là kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà, cho nên muốn tìm hiểu về Tịnh Độ pháp môn Niệm Phật, cần hiểu qua ba bộ kinh trên.
1. Vô Lượng Thọ Kinh là bộ kinh chánh yếu, giải thích Đức Phật A Di Đà trước khi chứng Phật quả, Ngài lo tiếp độ chúng sanh chí thành cầu nguyện vãng sanh về cảnh giới cực lạc.
Trong kinh nầy nói Vua Kiều Thi Ca, nghe Đức Phật Thế Tự Tại Vương ra đời thuyết pháp liền bỏ ngôi vua, xuất gia làm vị tỳ kheo hiệu Pháp Tạng. Một hôm Vua đảnh lễ Phật, quỳ xuống chấp tay, cầu nguyện Phật chứng minh và phát 48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy, sau nầy thành Phật hiệu A Di Đà.
Bộ Kinh nầy cũng gọi là: Đại Bổn, Đại A Di Đà, Đại Vô Lượng Thọ Kinh,
Kinh Bi Hoa nói: Một hôm vua Vô Tránh Niệm, nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm cúng dường các món ăn uống, y phục cho Đức Phật và đại chúng luôn trong ba tháng an cư. Cầu đạo vô thượng. Vua nguyện sau thành Phật, sẽ làm giáo chủ một cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh, phát nguyện xong, Đức Bảo Tạng Như Lai liền Thọ Ký cho vua sau nầy, sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà và cõi nước là Tây Phương Cực Lạc. Vị Đại Thần Bảo Hải sau cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm thứ bảy Hóa Thành Dụ: Về thời quá khứ, tại nước Hảo Thành có vị vua tu thành Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng. Khi còn ở ngôi báu ngài có 16 vương tử, nghe ngài đã thành Phật, 16 vị vương tử nầy liền xuất gia theo Ngài tu hành, được Phật giảng dạy kinh Pháp Hoa, về sau 16 vị vương tử đều thành Phật. Có hai vị làm Phật ở phương Đông: A Súc và Tu Di Đảnh, hai vị làm Phật ở Đông Nam: Sư Tử Âm và Sư Tử Tướng, hai vị làm Phật ở phương Nam: Hư Không Trụ và Thường Diệt, hai vị làm Phật ở Tây Nam: Đế Tướng và Phạm Tướng, hai vị Phật ở phương Tây: A Di Đà và Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não, hai vị làm Phật ở Tây Bắc: Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông và Tu Di Tướng, hai vị làm Phật ở phương Bắc là Vân Tự Tại và Vân Tự Tại Vương, một vị làm Phật ở Đông Bắc: Hoại Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não và vị thứ 16 chính là Đức Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà nầy.
2. Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi, khi Đức Thế Tôn tại núi Kỳ Xà Quật, ngài cảm ứng lời cầu nguyện của Hoàng Thái Hậu Vi Đề Hy, bị vua A Xà Thế biệt giam ở cấm thất, ngài bảo Đức Mục Liên cùng ngài A Nan đến đó, còn Đức Thế Tôn hiện thân nơi ấy, giảng dạy Vi Đề Hy pháp tu để giải thoát cảnh Ta Bà, bà Vi Đề Hy nhờ thần lực của Đức Thế Tôn, được thấy nhiều cảnh giới, nhưng bà chọn cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, gồm có 9 phẩm. Đức Phật đã dạy phép Quán Vô Lượng Thọ là sống lâu mãi mãi (Vô Lượng Thọ, là một trong 12 danh hiệu của Đức Phật A Di Đà).
Nói qua nhân duyên Phật độ cho bà Vi Đề Hy, mẹ của vua A Xà Thế. Thời gian thái tử Tất Đạt Đa còn tìm thầy học đạo, có đến thành Vương Xá, là kinh đô vương quốc Ma Kiệt Đà do Bình Sa Vương cai trị, Vua thấy ngài là một tu sĩ có tướng mạo cao quý, nên có đến thăm viếng và yêu cầu khi nào Thái Tử đắc đạo, mời trở lại viếng thăm vương quốc. Do đó, sau khi thành đạo chẳng bao lâu, độ cho Ca Diếp và Mục Kiền Liên, Đức Thế Tôn đã trở lại vương quốc Ma Kiệt Đà độ Bình Sa Vương, Ngài giảng kinh Túc Sanh Truyện, Bình Sa Vương nghe qua chứng được quả Tu Đà Hoàn và ngài đã cúng dường rừng trúc để xây dựng Tịnh Xá Trúc Lâm.
Trước khi Hoàng Hậu Vi Đề Hy, vua Bình Sa Vương chưa có con đã đi lễ nhiều nơi, để xin cầu con, một hôm có thầy tướng cho vua biết, ở ngọn núi Phú Lâu Na có bậc tiên nhơn đạo đức, sau ba năm nữa sẽ thác sanh làm con vua. Vì muốn sớm có con, đôi ba phen thỉnh cầu mà không được, lần chót vua ra lệnh cho sứ hóa kiếp tiên nhân, để sớm đạt được ý nguyện của mình. Do đó trước khi chết, tiên nhân phát nguyện: “Ngày nay vua dùng tâm và miệng sai người giết tôi, nếu tôi sanh làm con vua, cũng dùng tâm và miệng sai người giết vua”. Chưa sanh mà đã có oán thù, cho nên A Xà Thế còn có tên là Vị Sanh Oán.
Khi Đức Thế Tôn cao tuổi, Đề Bà Đạt Đa anh ruột của A Nan, muốn thống lãnh Tăng Đoàn, yêu cầu Phật truyền ngôi vị ấy, Phật biết Đề Bà Đạt Đa không xứng đáng, nên chẳng khứng cho, Đề Bà Đạt Đa mới liên kết xúi dục Thái tử A Xà Thế cướp ngôi vua cha. Bình Sa Vương dẹp yên giặc, biết con muốn làm vua, chẳng những không bắt tội, mà ngài lại truyền ngôi cho A Xà Thế. Lên ngôi xong liền ra lệnh hạ ngục vua cha, không cho ăn uống, nhưng bà Vi Đề Hy vào thăm và lén giấu thức ăn trong người, để tiếp tế cho Bình Sa Vương, biết được việc nầy, A Xà Thế hạ lệnh giam mẹ ở cấm cung. Chính ở nơi đây, bà đã cầu nguyện Đức Thế Tôn chỉ cho biết nguyên nhân, và dạy cho bà cách tu để thoát khỏi cảnh khổ ở thế gian nầy. Ấy là nguyên do Đức Phật giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh.
Còn A Xà Thế, sau khi giam mẹ, ông sai người thợ cạo vào ngục để giết vua cha, liền sau đó ông được tin mình có con đầu lòng, lúc ấy ông mới biết tình cha con, liền vào cấm cung hỏi mẹ, về tình cảm của vua cha đối với ông, bà Vi Đề Hy kể lại những tình cảm cao cả Bình Sa Vương đã dành cho ông, ông hối hận truyền lệnh thả vua cha, nhưng lệnh của ông đã đến chậm hơn nhiệm vụ của người thợ cạo phải thi hành. Nhân quả đã xong. Để răn dạy người tu hành, những hành vi của Đề Bà Đạt Đa và vua A Xà Thế đối với Phật và cha mẹ, là ngũ nghịch tội, ai mắc phải, bị đọa vào ngục vô gián. Theo kinh Pháp Hoa, Phẩm Đề Bà Đạt Đa, Đức Thế Tôn cho biết ở một tiền kiếp, Đề Bà Đạt Đa đã truyền dạy cho ngài kinh Pháp Hoa, nên ngài đã thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa thành Thiên Vương Như Lai sau nầy. Còn vua A Xà Thế về sau thành một vị hộ pháp đắc lực, cho công cuộc Kiết Tập Kinh Điển lần thứ nhất.
Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Đức Phật giảng 16 phép quán tưởng, để được vào Chín Phẩm của Đức Phật A Di Đà, đó là cõi cực lạc, nhưng Quán là pháp tu Thiền, Cho nên Quán Vô Lượng Thọ Kinh, là pháp Thiền của Tịnh độ. Kinh nầy cũng còn được gọi là Thập Lục Quán Kinh.
3. Kinh A Di Đà, chúng ta thường tụng trong các khóa lễ Cầu Siêu, kinh nầy Phật giảng cho Xá Lợi và đại chúng, tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, trong kinh, Đức Phật mô tả sơ lược cảnh giới của Đức Phật Di Đà, khuyên mọi người tu để được vãng sinh, cương yếu đoạn kinh sau đây:
- Xá Lợi! Nếu có người trai lành, người gái thảo nào nghe nói về Đức Phật Di Đà, cố gắng chuyên trì danh hiệu Ngài: hoặc một ngày, hoặc hai ngày, cho đến bảy ngày, một lòng chẳng loạn, khi lâm chung sẽ được Đức Phật Di Đà cùng Thánh Chúng hiện ra trước họ, khi chết tâm không điên đảo, liền sinh về nước cực lạc Đức Phật Di Đà.
Có thể nói đây là đoạn quan trọng, chính yếu để phát triển pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ Tông. Kinh Vô Lượng Thọ được gọi là Đại Bổn A Di Đà, Kinh A Di Đà còn gọi Tiểu Bổn A Di Đà.
Tịnh Độ Phật Giáo Trung Quốc đã tôn vinh những vị chứng quả thành Tổ như sau: 1) Tuệ Viễn Sơ Tổ, 2) Thiện Đạo, 3) Thừa Viễn, 4) Pháp Chiếu, 5) Thiếu Khang, 6) Diên Thọ hiệu Trí Giác, 7) Tỉnh Thường tự Thứu Vi, 8) Châu Hoằng hiệu Liên Trì, 9) Trí Húc tự Ngẫu Ích, 10) Hành Sách, 11) Thật Hiền hiệu Tỉnh Am, 12) Tế Tỉnh tự Triệt Ngộ, 13) Ấn Quang
II. Cảnh Giới Cực Lạc:
Về cảnh giới Cực Lạc, không phải là Niết Bàn tịch tĩnh, theo như trong kinh A Di Đà diễn tả :
- Này Xá Lợi Phất! Sao cõi kia gọi là Cực Lạc? Vì chúng sanh nước ấy không có những sự đau khổ, chỉ hưởng thụ những sự vui sướng mà thôi, nên gọi là Cực Lạc.
- Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy trùng bao lơn, lưới giăng, hàng cây, đều bằng bốn thứ ngọc báu, bao bọc. Thế nên gọi là Cực Lạc.
- Xá Lợi Phất! Cõi Cực Lạc có ao bằng bảy thứ ngọc báu, nước tám công đức. Đáy ao cát vàng rải khắp mặt đất. Đường, bực, bờ bốn bên đều là vàng, bạc, lưu ly và pha lê. Trên ao lầu các đều trang nghiêm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não. Trong ao có những hoa sen lớn như bánh xe. Hoa sen xanh tỏa ra ánh sáng xanh, hoa sen vàng tỏa ra ánh sáng vàng, hoa sen đỏ tỏa ra ánh sáng đỏ, hoa sen trắng tỏa ra ánh sáng trắng, các hoa sen ấy đều có những hương vị thanh khiết vi diệu.
- Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
- Xá Lợi Phất! Cõi nước của Đức Phật Di Đà, thường trổi nhạc cõi trời; đất bằng vàng ròng và ngày đêm sáu thời thường mưa hoa mạn đà la cõi trời. Chúng sanh trong cõi nầy cứ sáng sớm, họ thường đem những lẵng hoa quí, cúng dường mười vạn ức Phật ở các phương khác, mà chỉ trong giây lát, họ đã về ngay nước họ, kịp bữa ăn sáng. Ăn xong đi kinh hành.
- Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
- Lại nữa, Xá Lợi Phất! Nước kia thường có các giống chim màu sắc sặc sỡ, đẹp lạ như: chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cộng mệnh. Các loại chim ấy, ngày đêm sáu thời hót ra những tiếng hòa nhã. Trong những tiếng ấy diễn tả diệu pháp năm căn, năm lực, bảy bồ đề, tám thánh đạo. Những diệu pháp như thế, chúng sinh trong cõi nầy, đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
- Xá Lợi Phất! chớ nghĩ các giống chim do tội báo sinh ra, vì sao? Là vì nước của Đức Phật A Di Đà kia không có ba đường ác, không có tên ác, huống có ác thực sự. Các giống chim ấy đều do Đức Phật A Di Đà muốn cho tiếng pháp lan rộng, nên ngài biến hóa ra.
- Xá Lợi Phất! Cõi Đức Phật Di Đà có những làn gió hiu hiu thổi rung các hàng cây báu, cùng những mạng lưới báu, phát ra những tiếng vi diệu, ví như trăm nghìn thứ âm nhạc, đồng thời trổi lên.
- Ai nghe được những tiếng ấy, tự nhiên đều sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
- Xá Lợi Phất! Cõi Đức Phật A Di Đà thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
Đó là cảnh giới Cực Lạc theo kinh Di Đà, còn theo kinh Vô Lượng Thọ, tỳ kheo Pháp Tạng có 48 lời nguyện, khi nào 48 nguyện nầy thành tựu ngài mới thành Phật A Di Đà, ngược lại tỳ kheo Pháp Tạng sau nầy đã chứng quả, tức là 48 lời nguyện ấy đã thành tựu, (Có thể đọc 48 lời nguyện theo thể văn vần của Kinh Bốn Mươi Tám Lời Nguyện trong Nghi Thức Tụng Niệm).
III. Niệm Phật như thế nào? Có những cách niệm Phật sau đây:
- Tụng niệm: Quỳ trước bàn Phật hay đi kinh hành, niệm lớn tiếng, có chuông mõ.
- Niệm thầm: Niệm ở ngoài đường khi đi lại, làm việc, trước khi đi ngủ, bất cứ nơi đâu...
- Khẩn niệm: Khi bệnh hoạn, tai nạn, lo sợ niệm Đức Dược Sư, Đức Quán Âm, Đức A Di Đà...
- Niệm Phật lần chuỗi: Dùng chuỗi tràng (chuỗi 108 hạt), chuỗi tay (18 hạt), chuỗi trung (người Nhật dùng 27 hạt) để niệm một danh hiệu, lần một hạt chuỗi, cũng là cách ghi số lượng niệm Phật, khỏi dùng tâm nhớ.
- Quán niệm: Nhìn vào tượng Phật, chú tâm chiêm ngưỡng tướng tốt của Phật hay tưởng tượng hình ảnh Phật trước mắt.
- Niệm Phật công cứ : Người ta làm một cuốn sổ tay, cứ niệm được 1000 danh hiệu Phật, thì ghi 1 chấm, hoặc niệm 1000 danh hiệu Phật, thì bõ vào ống, một khúc chân nhang.
- Chuyên niệm: Đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào chúng ta cũng niệm Phật.
Kinh Đại Tập nói: "Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ", chúng ta là những người căn cơ còn thấp kém, cần phải nhờ vào tiếng niệm Phật của mình, để chú tâm vào đó, như vậy mới được nhất tâm.
- Khi chúng ta niệm thầm, ta cũng phải chú tâm từng niệm, không rời một giây phút, không cho nó chạy theo bất cứ hình ảnh, âm thanh, ý tưởng nào, để cho tâm chuyên chú một việc, gọi là nhất tâm.
Khi lần chuỗi niệm Phật, chỉ chú tâm vào danh hiệu Phật, mà niệm Phật, việc lần chuỗi hạt, để cho tay tự động làm. Về xâu chuỗi, có chỗ làm dấu như bình tịnh thủy, một hạt to hơn... nơi đó tượng trưng cho Tam Bảo. Lần hạt bắt đầu từ đó lần đi, khi lần tới chỗ đó là đủ một tràng hạt 108 niệm, nếu chuỗi tay phải 6 lần (6x18=108), chuỗi trung phải 4 lần (4x27=108). Không bao giờ lần qua chỗ làm dấu, khi lần tới đó phải quay xâu chuỗi lần ngược lại, người ta cho rằng lần qua chỗ tượng trưng Tam Bảo, cũng như tay ta để qua Phật, sẽ bị tội. Nhưng có lẻ thiền môn đặt ra lệ ấy, để tới đó ta biết rằng được một chuỗi, cũng như tụng kinh, lâu lâu thỉnh một tiếng chuông để cảnh tỉnh vậy. Nhờ lần chuỗi, ta biết được số lượng, thời gian niệm Phật.
Sổ tức niệm Phật. Sổ châu niệm Phật. Trì danh niệm Phật.
- Sổ châu niệm Phật: Là cách niệm lần chuỗi, có thể ngồi kiết già, bán già trong khi công phu, ngoài ra còn có thể niệm khi đi đứng nằm ngồi,
Điều quan trọng, cốt yếu nhất của niệm Phật là phải có Tín, Hạnh, Nguyện.
Tín là chúng ta phải tin chắc, cõi Ta Bà này Sinh, Lão, Bệnh, Tử đều là khổ, pháp môn niệm Phật là kim ngôn của Đức Thế Tôn, niệm Phật ta sẽ được sanh về cõi cực lạc, cõi ấy có thật, trang nghiêm thanh tịnh do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ. Hạnh là chúng ta phải từng giờ từng phút niệm Phật. Nguyện là chúng ta phải thành tâm, chí nguyện cầu khi lâm chung, sẽ được Phật Di Đà và Thánh Chúng tiếp dẫn về cõi Tây Phương cực lạc. Nên biết pháp môn niệm Phật lấy Tín, Hạnh, Nguyện làm tông chỉ: Hạnh như cổ xe, nguyện như người lái xe, còn tín như kẻ dẫn đường, đủ ba mới thành tựu sự tấn thối của xe. Người tu tịnh độ còn phải trì giới, nếu không trì giới, tức là gieo nhân ác, chúng ta phải chịu luân hồi ở cõi ta bà này để trả quả, làm sao về cõi Tây Phương được!
Bồ Đề nhứt bá bát,
Diệt tội đẳng hằng sa.
Viễn ly tam đồ khổ,
Xuất sắc biến liên hoa.
Ái hà thiên xích lãng,
Khổ hải vạn trùng ba.
Dục thoát luân hồi khổ,
Cấp tảo niệm Di Đà.
Sông mê hằng sa sóng
Biển khổ quá chi ly
Luân hồi mong thoát khỏi
Cần sớm niệm A Di
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Là hành giả tu học theo pháp môn Tịnh Ðộ, chúng ta nên nương tựa năm bộ kinh và một bộ luận của Tịnh Ðộ Tông để được hướng dẫn thực hành: 1.- Phật Nói Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm, Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, Và Giác Ngộ Của Ðại Thừa; 2.- Kinh A Di Ðà; 3.- Kinh Quán Vô Lượng Thọ; 4.- Phẩm "Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền" trong Kinh Hoa Nghiêm; 5.- Phẩm "Bồ Tát Ðại Thế Chí Ðắc Quả Bằng Pháp Niệm Phật" trong Kinh Lăng Nghiêm; 6. Tịnh Ðộ Luận của Bồ Tát Thế Thân (Vasubandhu). Ðó là quy y Pháp.
Ba Ðiều Kiện được kể trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Ðiều Kiện Thứ Nhất là (a) có hiếu với cha mẹ và tôn kính các bậc sư trưởng, (b) từ bi không sát sinh, và (c) thực hành Mười Ðiều Tốt.
Ðiều Kiện Thứ hai là (a) Quy Y Tam Bảo, (b) trì giới, tuân theo luật pháp cùng phong tục, và (c) cư xử nghiêm chỉnh đúng đắn.
Ðiều Kiện Thứ Ba là (a) phát Bồ Ðề Tâm, (b) thâm tín luật nhân quả, (c) tụng đọc và đề cao kinh sách Ðại Thừa, cùng (d) khuyến khích người khác tu tiến trên con đường Giác Ngộ.
Ðức Phật dạy rằng Ba Ðiều Kiện này, là nguồn gốc mang lại giác ngộ cho ba đời mười phương Chư Phật. Vậy, chúng ta không thể thiếu những điều quan trọng này trong việc thực hành pháp môn niệm Phật.
|
|
|