Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
 
ENGLISH  | Trang Chủ | Truyền Hình | Pháp Âm | Thư Viện  | Tin Tức Phật Giáo  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE


Tịnh Độ
Giáo Lý Căn Bản
Phật Giáo & Xã Hội
Phật Giáo & Văn Hóa
Nhân Sinh Quan PG
Truyện Ngắn
 
 
 
 
 
 
 
 

NGŨ GIỚI
Thích Huệ Hải - Nhật Bảo Quốc dịch

                                                            Xem bản English                                                       


Trong truyền thống Phật Giáo Việt Nam, khi một người quy y (họ chính thức trở thành người Phật Tử), tức là họ thọ ngũ giới (năm điều ngăn cấm). Trong một vài truyền thống khác của Phật Giáo, những giới cấm này không được trao truyền một cách tự động, mà người ấy có thể tự chọn một hay nhiều giới cấm nào thích hợp với họ, ngay lúc họ quy y hay vào một thời điểm nào đó về sau. Tuy nhiên, truyền thống Việt Nam, tất cả ngũ giới đều được thọ cùng một lúc trong lễ thọ tam quy ngũ giới.

Các giới đó cấm là:
1. Tránh giết hại
2. Tránh trộm cắp
3. Tránh tà dâm
4. Tránh nói dối
5. Tránh dùng chất làm say

Tránh giết hại có nghĩa là chúng ta không những phải tránh không được cố ý giết hại, nhất là trong cơn giận dữ, mà còn phải tránh giết hại vì sự vô ý nữa. Chẳng hạn như, nếu thấy nhiều con bọ bò trên đất, chúng ta nên đi quanh để tránh chúng. Tình cờ mà giết hại chúng sanh không có nghĩa là phá giới, nhưng phải mang ác nghiệp với sự giết hại này. Dĩ nhiên, mỗi bước chân của ta, là sát hại chúng sanh. Mỗi khi chúng ta hút bụi trên thảm, là sát hại chúng sanh. Mỗi nhát cuốc xuống đất và gặt hái của nhà nông, là sự sát hại xảy ra. Việc này không thể nào tránh được.

Một mặt, tất cả chúng sanh đều bình đẳng như nhau. Trong những đời sống trước, chúng ta đã trải qua đủ mọi hình thức sống mà ta có thể tưởng tượng ra được, cho nên, nếu hiểu được như vậy, thì tại sao chúng ta lại có thể giết hại những sinh vật khác cũng đau khổ như chính chúng ta? Mặt khác, chỉ có loài người mới có thể đạt thành giác ngộ. Chúng sanh ở địa ngục và ngạ quỷ thì chịu quá nhiều khổ đau và vì vậy, không thể nào thực hành được giáo pháp của Đức Phật, tức là Phật Pháp. Họ luôn luôn ở trong tình trạng sợ hãi và đau đớn hay đói khát. Họ không thể nào chuyên tâm vào việc nào khác. Mỗi giây phút của họ trong địa ngục là làm sao sống còn sau cơn đau đớn và nỗi thống khổ của nơi đó, rồi nỗi sợ hãi khủng khiếp của sự đau đớn và khổ sở lại đến với họ chỉ vài phút sau đó.

Súc sanh thì lại quá ngu tối. Chúng không có khả năng để suy tưởng về hành động và kinh nghiệm của mình. Chúng chỉ sống theo bản năng. Đối với loài vật thì hãy còn quá xa vời trong việc mưu cầu hạnh phúc, chúng còn thiển cận hơn loài người về việc này. Nếu bạn có nói với con mèo, “Mèo biết không, mèo có thể nằm đây phơi nắng và ngủ, hay vào trong chánh điện của chùa mà lễ Phật”, chúng sẽ làm lơ, chẳng biết gì cả. Nếu bạn tụng kinh cho con chó nghe, nó chẳng hiểu gì cả về phần kinh mà bạn tụng.

Đối với thần linh, họ có nhiều trí thông minh, tuy nhiên họ lại có quá nhiều lạc thú. Họ cũng có đời sống khá lâu dài. Hơn cả loài người, họ nghĩ rằng là họ có thể thực hiện vào ngày mai những gì mà họ cần phải làm cho ngày nay – đó là việc thực hành Phật Pháp. Tuy là họ có thỉnh mời những bậc giác ngộ vào cõi giới của họ để giảng giải Phật Pháp, nhưng họ lại không có ý muốn thực hành. Chỉ có loài người là mới có đủ sự phối hợp của trí thông minh, mang nổi khổ đau, và mong cầu giải thoát khỏi khổ đau, là có khả năng và khuynh hướng học hỏi và thực hành Phật Pháp.

Vì thế cho nên giết hại người là vô cùng xấu ác. Dĩ nhiên, như Thầy đã nêu ra lúc nãy, có sự khác biệt giữa sự cố ý giết người qua sự giận dữ và sự vô ý giết người. Trong khi giết người vì vô ý thì còn phải mang ác nghiệp. Huống chi cố ý giết người trong cơn nóng giận là sự phá giới cấm này.

Thật ra, có một câu chuyện trong Jataka (Bản Sinh Kinh) kể lại những tiền kiếp của Đức Phật, lúc còn là Bồ Tát. Ngài đi trên một con thuyền với nhiều người thương buôn và có một tên cướp. Qua thần thông, vị Bồ Tát trong tương lai sẽ thành Phật, biết được kẻ cướp có ý định giết tất cả các thương buôn trên thuyền để cướp lấy tài sản của họ. Vì lý do ấy, vị Bồ Tát biết chỉ có một cách ngăn ngừa việc này xảy ra là giết đi tên cướp. Tuy nhiên, ngài cũng biết là ngài sẽ tạo ra ác nghiệp trong việc giết người, nhưng vì lòng thương xót những người thương buôn đó, nên vị Bồ Tát này đành phải giết đi tên cướp. Khi ngài chết, vị Bồ Tát liền bị đọa ngay vào địa ngục nhưng mà ngài lại chết sớm và được tái sanh vào cõi cao hơn sau đó. Tại sao vị Phật tương lai lại không bị ở địa ngục lâu hơn? Vì động cơ giết người của ngài là bảo vệ sự sống thay vì giết hại qua sự giận dữ. Vì thế cho nên lấy mạng người với sự cố ý là việc xấu ác, nhưng làm như vậy trong cơn giận dữ, ganh ghét, tham lam hay với lòng ích kỷ, thì lại xấu xa tệ hại nhất.

Tiếp đến là giới cấm không được trộm cắp. Khi chúng ta trộm cắp, trên thực tế là chúng ta đã gây thiệt hại cho người mất của. Chúng ta phá đi cảm giác an toàn và sự an ổn của người khác, làm cho họ có cảm giác bị thiệt hại. Nói một cách khác, chúng ta đã làm thiệt hại cho họ không những về vật chất, mà còn về mặt tâm lý nữa. Cảm giác thụ hưởng những gì không thuộc về mình cho thấy đó là lòng ích kỷ - lòng tự ái (lòng thương quý mình hơn). Chúng ta nói với người bị chúng ta lấy cắp rằng, “Hạnh phúc của tôi quý hơn của ngươi. Ta quan trọng hơn ngươi.”

Dĩ nhiên, bất kỳ lúc nào mà chúng ta hại một sinh vật nào qua hành vi trái với những giới cấm này, là chúng ta đã hành động như thể là chúng ta quan trọng hơn những sinh vật mà bị ta hãm hại. Việc này chỉ tạo nên ác nghiệp trong tương lai là chúng ta sẽ bị hại mà thôi. Thật ra, khi mà chính mình bị hãm hại, theo Ngài Shantideva, vị Tổ Sư Phật Giáo vào thế kỷ thứ 9, cho rằng, chúng ta phải nhận ra sự thực là mình đã tạo ra nguyên nhân để bị hãm hại sau đó. Thay vì giận dữ với chúng sanh khác, chúng ta cần phải cầu nguyện cho sự an lạc hạnh phúc của họ. Nếu như những ai hãm hại chúng ta thấy ra được chân lý này, thì hạnh phúc của họ sẽ lâu dài hơn từ sự thức tỉnh này thông qua giáo pháp của Đức Phật, rồi họ sẽ chẳng bao giờ còn làm hại một ai nữa. Họ sẽ trở nên tốt lành hơn và chúng ta cũng sẽ trở nên tốt lành hơn. Đó là việc tốt cho tất cả.

Vì vậy, làm hại người khác là vô cùng dại dột. Có một câu chuyện về Đức Quán Thế Âm, vị bồ tát của lòng đại bi, mà trong câu chuyện đó có một người thấy mình sinh vào địa ngục. Quá khổ sở, ông ấy cuối cùng nhớ đến vị Bồ Tát này là ngài hứa cứu chúng sanh ra khỏi cảnh địa ngục khi cầu đến danh hiệu ngài. Cho nên người địa ngục mới bắt đầu cầu cứu đến danh hiệu ngài. Chẳng bao lâu, một sợ dây mỏng nhỏ xuất hiện, mỏng như dây mạng nhện. Người địa ngục nhìn lên thì thấy Đức Quán Thế Âm tay nắm đầu dây kia, và người ấy mới bắt đầu nắm dây leo khỏi địa ngục. Leo một lúc, người ấy nhìn xuống và thấy có vô số chúng sanh khác cũng cùng leo lên một sợi dây. Người ấy vội nghĩ, “Ồ, không! nếu mọi người cùng leo lên thì sợi dây sẽ đứt mất và mọi người sẽ cùng rớt lại vào địa ngục! Sợi dây này chỉ dành riêng cho ta thôi! Họ không thể nào leo lên ấy được!” Ngay lúc đó, sợi dây liền đứt và mọi người rơi hết lại vào địa ngục.

Trọng điểm câu chuyện này là chúng ta cùng ở cõi này. Hạnh phúc của ta tùy thuộc vào hạnh phúc của người. Nỗi khổ của ta có liên quan đến nỗi khổ của người. Nếu chúng ta ăn cắp của ai, là chúng ta đã đặt nặng hạnh phúc của riêng mình. Dĩ nhiên, như nói dối hay ngồi lê đôi mách, nếu chúng ta bị bắt gặp bởi tật xấu ấy của mình, thì chúng ta cũng khổ sở lắm. Thanh danh bị mất, như trường hợp trộm cắp, chúng ta có thể mất việc làm hay vào ngồi tù. Tất cả cũng chỉ vì giây phút ích kỷ thiếu suy nghĩ dại dột.

Chúng ta không những chỉ nghĩ đến của cải vật chất hay tiền bạc trong giới cấm này. Mà chúng ta còn cần phải suy xét về sự thiệt hại thời gian nữa. Nếu chúng ta đi làm việc mà trộm thời gian trong giờ ăn trưa cho lâu hơn, hay lén về sớm hơn, hay trốn giờ vào internet khi chúng ta phải làm việc, thế là chúng ta đã trộm cắp thời gian mà người ta đã trả cho chúng ta để làm việc. Cách mà giới cấm này bị phá còn tùy thuộc vào sự trộm cắp những gì có giá trị đáng kể hay không. Những gì có giá trị đáng kể còn tùy vào từng trường hợp. Chẳng hạn như, ăn cắp một cái áo của người giàu không gây thiệt hại nặng nề như ăn cắp một cái áo của người nghèo khi họ chỉ có một cái áo mà thôi. Nó tùy thuộc vào từng trường hợp riêng biệt.

Giới cấm thứ ba là tránh tà dâm. Đây là giới cấm hơi rắc rối một chút khi nói đến, nhưng là một trong năm giới, vậy nó cũng quan trọng để chúng ta suy xét về ý nghĩa của nó.

Đức Dalai Lama đã gây nên vài tranh luận trong đề tài này, vì ngài đã đưa ra quan điểm của Tổ Atisha, một nhà sư vào thế kỷ 10-11 xuất thân từ vùng Nam Á, nay là Bangladesh. Ngài Atisha rất rõ ràng trong định nghĩa của ngài. Thầy không đi vào chi tiết, nhưng Ngài Atisha đã phát biểu là chỉ có một hình thức đứng đắn của tính dục giữa vợ chồng trong mục đích chính là để có con cái. Có rất nhiều, rất nhiều người phương Tây có lẽ không hoan nghênh quan điểm này. Theo ý nghĩ mà Thầy tin rằng Tổ Atisha đã cố gắng đưa ra là, hành vi về tính dục chỉ làm tăng thêm sự ràng buộc của sự luyến ái mà thôi, và vì vậy tạo thêm nhiều dính mắc nghiệp chướng để có thể lại bị sinh vào cõi Ta Bà. Tuy nhiên, Đức Dalai Lama đã nêu ra chi tiết việc này là dựa vào sự hướng dẫn của Tổ Atisha mà thôi, có lẽ vì Đức Phật đã nêu ra quá ít chi tiết về quan điểm này.

Vì vậy theo quan điểm của Thầy, điều quan trọng là cần phải đặt giới cấm này lồng trong các giới cấm kia. Nếu một người cư sĩ nói dối và phỉnh gạt người nào để họ ngủ với mình, thì đó là tà dâm. Ngoại tình cũng là tà dâm, cũng như ép buộc người nào để làm tình. Một cách hiển nhiên, cũng như chuyện cưỡng hiếp. Từ ngữ “tà dâm” thì không đủ để giải thích ở đây. Nó là một hình thức của trộm cắp – trộm sức lực người nào trên thân thể của họ, không nói đến sự bình an tâm hồn của họ trong những năm tháng tới. Nói một cách khác, làm hại người nào qua hành vi tính dục là tà dâm. Cũng như nói dối và trộm cắp cần phải được loại trừ nếu người ta muốn tiến bước trên lộ trình Phật Đạo, hại người qua tính dục cũng cần phải được dẹp bỏ luôn.

Khi thọ những giới luật này, chúng ta còn cần phải hiểu rằng chúng ta không nên bỏ những điều thiện lành. Giới luật cho cư sĩ và tu sĩ không phải là nhà tù. Đức Phật dạy giới luật là nhằm loại trừ đi những hành vi xấu xa của thân (việc làm), khẩu (lời nói) và ý (tư tưởng), chúng ta sẽ bớt đi khổ sở và bớt gây khổ đau cho kẻ khác. Giúp chúng ta tránh tạo ra ác nghiệp, do vậy giới luật mang lại cho ta sự giải thoát khỏi vòng sanh, già, bệnh và chết. Giới luật là một phần của con đường giải thoát. Vì vậy chúng ta cần phải nghĩ rằng giới cấm không phải là những thanh song sắt của ngục tù, mà là ngọn đèn soi sáng trên bước đường giác ngộ.

Giới cấm kế tiếp là nói dối. Nói dối được nêu ra trong Bát Chánh Đạo là hình thức không chánh ngữ (tà ngữ) cần phải được loại trừ. Thầy nghĩ đây là điều rõ ràng vì sao chúng ta cần phải ngăn ngừa nói dối – vì nói dối là làm hại người khác. Và quan trọng hơn nữa là nó cũng làm hại chính người nói dối. Nếu một người bị bắt về tội nói dối, nó sẽ làm hại đến mối giao hảo với người khác mà có lẽ còn phải trả cái giá quá đắt. Có người có thể bị mất việc vì tội nói dối. Rồi thì có đủ mọi thứ dằn vặt liên quan đến sự nói dối. Người nói dối cần phải nhớ những gì mà họ đã nói dối để tránh khỏi bị bắt tội. Tâm chân thật là tâm bình yên. Với những điều gian dối trong đầu, họ không thể nào có được sự an ổn trong tâm hồn. Luôn luôn có những sự hoang mang trong đầu của những kẻ nói dối. Họ luôn luôn bị theo dõi.

Cũng có những trường hợp phải đặt chuyện nói dối để lôi kéo người nào đó làm việc gì mà kẻ nói dối muốn cho được, giống như bẻ quặp tay ai lại bằng cách nào đó, có lẽ bằng cách tống tiền, hay vào việc làm tình như nói ở trên. Đây thực sự là một hình thức trộm cắp nếu chúng ta suy xét cho kỹ về nó.

Dĩ nhiên, có những trường hợp nói dối mà tất cả chúng ta nói ra để tránh gây đụng chạm cho người nào. Thầy có một người bạn gái trong đại học, có lần người ấy đi uốn tóc thấy rất kinh khủng. Dĩ nhiên, Thầy bảo tóc cô uốn thấy đẹp. Nếu người nào mua một món quà mà bạn không thích, bạn không cần phải nói là bạn không thích. Bạn cười nhận và nói cảm ơn, ngay khi bạn biết mình sẽ chẳng bao giờ dùng món quà mà họ cho bạn. Động cơ ở đây chính là tránh gây phiền não cho người khác, vì vậy, cá nhân Thầy thấy việc nói dối này không phải là hành vi sai trái.

Giới cấm cuối cùng là không được xử dụng chất say. Một trong những câu chuyện ưa thích của Thầy trong Thiền là câu chuyện một nhà sư đi trên đường gặp một người đàn bà chận đường. Bà ta bảo nhà sư là bà sẽ không cho nhà sư bước qua trừ phi nhà sư ngủ với bà, hoặc giết con chó bên cạnh bà, hoặc uống bình rượu bà cầm trên tay. Nhà sư nghĩ giết con chó thì khủng khiếp quá và ngủ với bà thì lại phá giới, vì vậy nhà sư quyết định uống bình rượu mà tin rằng đây là việc nhẹ tội dễ làm trong ba việc xấu ác. Tuy nhiên, sau khi uống rượu, nhà sư quá say nên giết luôn con chó và ngủ luôn với bà.

Dĩ nhiên là câu chuyện này không mang ý nghĩa một sự kiện lịch sử thật sự. Trong quá khứ khi ẩn dụ này được nêu ra, thì người ta thường nói là, “Sao nhà sư không đi vòng qua bà ta hay trở về lại con đường cũ?” Lý ra, nhà sư có thể tránh được mọi chuyện, nhưng câu chuyện này mang một ý nghĩa rằng, chất say đưa tới những hành vi tệ hại trong tư tưởng, lời nói, và việc làm.

Rượu làm giảm đi sự tự chế trong ta và do đó có thể để cho những thói quen tật xấu trở nên lộng hành. Khi say, người ta làm đủ mọi thứ dại khờ, như nói những điều độc ác rồi sau đó lại hối lỗi, không nói đến việc lái xe say rượu, đánh nhau, vân vân. Rượu tự nó cũng chỉ là một loại chất lỏng. Vấn đề là nó ảnh hưởng đến tâm trí của ta như thế nào.

Một số người cho rằng dùng chỉ một ít thôi, chỉ đủ để làm ấm người và vui vẻ không phải là điều xấu. Dĩ nhiên, nếu ai đó chỉ uống một chút, có lẽ sẽ không có vấn đề gì trong lúc đó. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhìn xa hơn một chút và hiểu cho rằng là nếu chúng ta đã tạo ra thói quen cho mình có khuynh hướng đi tìm thứ lạc thú nào bằng cách uống rượu. Nói theo nghiệp, việc này dẫn đến giai đoạn dùng rượu nhiều hơn trong tương lai. Đây không cần thiết có nghĩa là chúng ta sẽ biến thành kẻ nghiện rượu trong kiếp này hoặc kiếp sau. Nhưng có lẽ là chúng ta sẽ trở nên kém thông minh và thiếu khả năng tập trung tinh thần khi chúng ta muốn vậy. Không biết kết quả chính xác như thế nào, đam mê trong chất say, ma túy là đối chọi trực tiếp đến mục đích của chúng ta để có một cái tâm sáng suốt, thông minh và tỉnh giác.

Ngoài ra, điều quan trọng cần nhớ là chữ “Phật” có nghĩa là “Người tỉnh thức”. Do đó, Phật là một người đã thức tỉnh từ si mê và thấy ra sự thật một cách rõ ràng. Vậy thì làm sao chúng ta có thể hy vọng thức tỉnh và nhìn thấy rõ ràng nếu chúng ta cứ tạo thói quen làm mờ đi tâm trí của mình? Khi dính vào chất say, rượu hoặc ma túy, là chúng ta quay đi ngược hướng với Phật Đạo.

Giờ đây chúng ta đã học qua ngũ giới, điều quan trọng là bước thêm một bước nữa. Là người Phật Tử trong truyền thống Đại Thừa mà chúng ta thọ Bồ Tát Giới để cứu độ mọi chúng sanh, tránh những hành vi xấu này chưa đủ. Chúng ta còn cần phải hành động một cách tích cực để gieo trồng công đức hầu đạt thành Phật đạo, để có thể thực sự cứu giúp chúng sanh đau khổ. Tránh những hành vi xấu ác của thân, khẩu và ý chỉ là bước đầu tiên.

Chẳng hạn như tránh hại mạng sống là tốt và giúp chúng ta khỏi tạo ác nghiệp liên quan đến sát giới, nhưng nhằm gieo trồng công đức, chúng ta còn cần phải giúp bảo vệ sự sống. Một Đại Bồ Tát có thể hy sinh thân mạng để cứu giữ mạng sống của kẻ khác. Tuy nhiên, chúng ta không cần phải bắt đầu bằng những việc quá tầm tay của mình. Chúng ta có thể bảo vệ sự sống bằng cách đem bỏ côn trùng ra ngoài thay vì bóp chết chúng. Chúng ta cũng có thể bảo vệ sự sống bằng cách tránh mua những giống vật đang bị diệt chủng. Chẳng hạn, ở Tây Tạng, thời trang bày ra việc dùng da cọp hiếm trong y phục truyền thống. Cuối cùng, Đức Dalai Lama nêu ra điều ấy là dân chúng đốt bỏ những loại quần áo đó và không còn mua thêm nữa.

Nhằm rèn luyện khả năng giữ gìn giới luật và hơn thế nữa để phát triển khả năng hữu ích xác thực cho kẻ khác, chúng ta cần phải tạo ra một hoàn cảnh khích lệ cho mình trên tiến trình này. Chúng ta cần phải hòa mình với những người thúc đẩy mình làm việc tốt lành và tránh những người lôi kéo mình làm những việc bốc đồng và ích kỷ.

Là Phật Tử, làm thế nào để chúng ta có thể đối ứng lại những người đã hãm hại ta? Nếu có người ăn cắp gì của ta, chẳng hạn, thì chúng ta phải cố gắng buông bỏ về mặt tâm lý – buông bỏ sự chấp trước về những gì đã bị mất. Dính mắc (tiếc rẽ) những gì đã mất chẳng mang lại hạnh phúc gì trong ta, vì vậy chúng ta cần phải buông bỏ. Gọi cảnh sát để bắt kẻ trộm, theo Thầy, không đi ngược lại với sự vô-chấp này. Nếu kẻ trộm bị bắt, thì có thể ngăn ngừa chúng làm thiệt hại cho người khác trong tương lai. Nếu có ai đó cố ý giết ta, dĩ nhiên là chúng cần phải được ngăn chận, nhưng làm vậy trong sự tức giận hay thù ghét thì chỉ làm hại cho ta.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà người khác hại ta, chúng ta cần phải cố gắng tránh đừng để cho cơn giận dữ hay oán hận nổi lên trong tâm trí của mình. Thay vào đó, phải nhớ rằng chúng ta đã tạo ác nghiệp cho những điều xấu ác này xảy ra và những kẻ hãm hại ta cũng chỉ là chúng sanh đau khổ. Chúng ta cần phải thật sự hiểu rằng người làm hại chúng ta là do vô minh si mê, họ chỉ thuần cố gắng để có được hạnh phúc. Nếu không đối đáp lại bằng sự giận dữ và không cố ý trả thù, chúng ta có lẽ đã thực sự làm cho họ ngạc nhiên để họ sẽ kiểm điểm lại những hành vi của họ trong tương lai.



Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: dieuphaptu@gmail.com