Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
 
ENGLISH  | Trang Chủ | Truyền Hình | Pháp Âm | Thư Viện  | Tin Tức Phật Giáo  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE


Tịnh Độ
Giáo Lý Căn Bản
Phật Giáo & Xã Hội
Phật Giáo & Văn Hóa
Nhân Sinh Quan PG
Truyện Ngắn
 
 
 
 
 
 
 
 

LỤC ĐỘ BA LA MẬT
Pháp Môn Căn Bản của Người Phật Tử
Thích Ân Huệ - Nhật Bảo Quốc dịch


Sáng hôm nay, chúng tôi xin nói một đề tài quan trọng trong giáo điển của Phật Giáo mà cách đây một năm quý vị đã từng nghe, bây giờ chúng tôi xin giúp quý vị ôn lại đề tài – Pháp Môn Lục Độ Ba La Mật – một lần nữa. Chúng tôi cố gắng nói một cách giản lược cả sáu hạnh Ba La Mật vào sáng hôm nay. [Bài giảng vào trung tuần tháng 9 năm 2004]

Lục Độ Ba La Mật, (Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, và Trí Tuệ), là giáo pháp căn bản của Đại Thừa Phật Giáo, là cách sinh hoạt và phương pháp hành trì của người Phật Tử thuần thành – nếu không theo sáu hạnh này, chúng ta không thể là Phật Tử thuần thành. Đây là căn bản của Giới Đức – tu hành đạo đức, thực hành thiện sự, thanh lọc tâm ý.

“PARAMITA” có nghĩa là “vượt qua đến bờ bên kia”. Tôi xin quý vị hãy thử hình dung xem – dùng trí tưởng của quý vị, như qua một dòng sông, một con suối hay một rạch nước nhỏ. Việc dùng thuyền (tức là thừa, Đại Thừa là thuyền lớn) mà qua sông đến bến (tức Niết Bàn) một cách tròn vẹn - gọi là Paramita (Ba La Mật) đạt thành toàn hảo tuyệt vời. Chúng ta không thể đến bờ bên kia một cách toàn hảo nếu mà không giữ gìn năm giới, không mở rộng tâm từ bi đối với mọi loài chúng sanh, hay không thực hành thiền quán. Mục đích tu tập là luôn luôn cải thiện, tức là tu sửa thực tập một cách liên tục vì chúng ta chưa bao giờ toàn hảo, bởi thế cho nên chúng ta mới là người trong cõi Ta Bà này. Đức Phật không phán xét chúng ta qua sự toàn thiện toàn hảo hay không – Mà chính chúng ta phải tự quán xét xem mình có thành tâm thật ý như thế nào trong việc tu tập hay không.

Sáu hạnh Ba La Mật là pháp môn hướng dẫn cho việc tu hành được tròn vẹn toàn hảo – vượt qua vô minh và phiền não để đến bến bờ giải thoát giác ngộ. Con người luôn luôn cố gắng cải thiện việc làm của mình khi nào họ có năng lực. Nếu chúng ta có một khả năng nào đó, thì ta sẽ cố gắng cải thiện khả năng đó ngày càng thêm tốt đẹp. Chẳng hạn như một người thợ cắt hột xoàn sẽ cố gắng cắt cho được viên hột xoàn một cách toàn hảo.

Vượt qua bến bờ toàn hảo bên kia là một hành trình suốt cả đời người với bao nhiêu gian khổ và vấp ngã. Chúng ta hãy nhắm mắt lại mà quán tưởng mỗi bờ Ba La Mật kia là dòng sông chảy xuống chân đồi. Đó là 1) Bố Thí, 2) Trì Giới, 3) Nhẫn Nhục, 4) Tinh Tấn, 5) Thiền Định, 6) Trí Tuệ, dòng nước có tính tẩy trừ thanh lọc những ô nhiễm. Dòng sông chảy vào hồ tỉnh lặng trong sáng như mặt gương – bản thể của nước là tỉnh lặng không nhiễu loạn. Mỗi dòng sông là một Ba La Mật. Nước thì khởi từ một nguồn – mưa hoặc từ lòng đất. Chúng ta hãy xem sáu dòng sông là sáu hạnh để hiểu chúng, và mỗi dòng lại chạy vào các dòng khác đan mắc vào nhau. Bây giờ chúng ta hãy thực hành sáu hạnh toàn hảo này.

1. BỐ THÍ – Phát triển lòng độ lượng đối với chúng sanh khác. Mở rộng lòng từ bi, ân cần trong mọi lúc; mở rộng lòng từ ái một cách thiết tha đến gia đình, bạn bè, người cộng sự… Thông cảm với người khác, chia xẻ, giúp đỡ họ, trong khóa tu thiền hãy tự khuyến khích trong tâm “hãy cố gắng lên!”.

2. TRÌ GIỚI – Giữ tâm đạo đức trong sạch - Đức Hạnh (giữ gìn ngũ giới là tạo công đức lành) – là cách để mở rộng hạnh bố thí, dốc toàn lực trong việc hành thiện. Cho mà không chờ nhận sự báo đáp. Không phải là số lượng hình tướng mà là phẩm chất tánh cách trong hạnh bố thí. Mang lại sự an ổn cho kẻ khác như bảo vệ, chăm sóc họ. Không những không gây thiệt hại đến chúng sanh khác, mà còn phải từ bi giúp mọi loài tăng trưởng sanh tồn và tạo sự an lạc cho mọi loài với lòng bao dung và độ lượng.

3. NHẪN NHỤC – Một đức hạnh cho chính mình và kẻ khác, một thái độ của ý chí và là chánh niệm để dừng lại, chờ đợi và thấu suốt. Thấu suốt là thành quả của nhẫn nhục. Những nhu cầu về thận trọng, bố thí, trì giới sẽ không được tốt đẹp nếu thiếu vắng hạnh nhẫn nhục; đây là một đức hạnh đưa tới sự điềm đạm/bình tỉnh khi mà mọi việc/mọi người khác đang lúng túng trong cơn khủng hoảng. Như khi lái xe vượt đèn đỏ do không muốn chờ thêm 20 giây sẽ có thể bị phạt vài trăm mỹ kim. Vậy ta có thể nào trả giá đó cho sự thiếu kiên nhẫn của mình hay không?

4. TINH TẤN – Chánh Tinh Tấn trong Bát Chánh Đạo – Hạnh giúp tăng cường thêm cho ba hạnh trước là Bố Thí, Trì Giới và Nhẫn Nhục. Làm thế nào để chúng ta có thể thực hành một cách toàn hảo? Chúng ta phải cần một thời gian dài để tích lũy năng lực mà thực hành các hạnh Ba La Mật, nếu chúng ta muốn vượt đến cõi Niết Bàn – từ khổ đau phiền não đến giải thoát giác ngộ, từ vô minh mê lầm đến hạnh phúc an lạc. Vậy chúng ta phải làm gì ở đây? Chỉ có tu tập để có sức mạnh mà thực hành tín ngưỡng của mình. Đây là những thành quả trong sự làm việc của chúng ta, trong Phật Giáo. Năng lực có được là nhờ công phu tu tập. Tinh tấn là năng lực thúc đẩy, dẫn dắt sự kiên trì bền chí của ta. Không nên ngồi trên thuyền mà để nó trôi dạt vô định, chúng ta phải bơi chèo để nhắm tới bờ bên kia… tới Niết Bàn.

5. THIỀN ĐỊNH – Định Tâm – Tu tập là làm thế nào để chúng ta toàn hảo các hạnh Ba La Mật kia; vượt qua là sự hành thiền mỗi ngày. Đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc,.. – đều ở trong thiền. Chánh niệm/Tỉnh giác trong mọi hành động – Hơn nữa, đây là sự rèn luyện tâm trong sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Mang mọi tư tưởng trở về sự thanh thản. Thanh tịnh trong việc thực hành các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục và tinh tấn – là sự nối kết của bốn hạnh trên với hạnh thứ sáu là trí tuệ.

6. TRÍ TUỆ - Là phần thâm sâu của dòng nước – Hạnh Ba La Mật khó thực hành và thấu triệt nhất, nếu chúng ta thực hành một cách đứng đắn. Chúng ta nghĩ thế nào về trí tuệ/hiểu biết; chúng ta được giải thoát là nhờ sự hiểu biết – những tản đá dưới lòng sông có thể làm vỡ thuyền hay làm đau chân ta. Bến bờ bên kia thì trong tầm tay. Trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật, hay trí tuệ thâm diệu toàn hảo, là mẹ của Chư Phật. Muốn đạt trí tuệ sáng suốt, chúng ta cần phải nhìn sâu vào bên trong hơn bao giờ hết. Do vậy, chúng ta mới thấu hiểu kẻ khác và họ trôi vào dòng trí tuệ. Chúng ta phải bơi nhanh hơn, tinh tấn hơn. Khi tới bờ bên kia, chúng ta mới thấy mình đã luôn ở trong Niết Bàn. Vậy thi tại sao chúng ta lại lại khổ sở? Bởi vì si mê. Chúng ta đã quên mất Niết Bàn mà bám víu vào tham muốn. Chúng ta đã chấm dứt khổ đau chưa? Thực hành các hạnh Ba La Mật giúp cho sự tu tập của người Phật Tử được trôi chảy; tiến tới như những dòng sông. Chúng ta chẳng bao giờ ngưng nghỉ. Niết Bàn ở trong thuyền với chúng ta và nhập vào những dòng sông trôi vào sự thanh vắng, bình lặng của hồ nước tỉnh giác. Chúng ta đạt đến đây bằng sự tu tập, nhận thực ra chúng ta ở đâu trong Niết Bàn bằng sự tu tập, và thường trụ ở đó cũng bằng sự tu tập.

Do vậy, trí tuệ phân biệt ra bản chất của các hiện tượng (các pháp). Có nhiều loại trí tuệ, như năm loại về khoa học: khoa học nội quán về tôn giáo và bốn loại ngoại quán về luận lý, y khoa, văn phạm, và nghệ thuật. Ở đây chúng tôi muốn nói về khoa học nội quán. Hình thức trí tuệ này là căn bản của mọi phẩm hạnh tốt lành. Không có sự hướng dẫn của trí tuệ, tất các các hạnh toàn hảo khác, như sự độ lượng (bố thí) và đạo đức (trì giới), giống như một nhóm người mà không có thủ lãnh. Sự thực hành những hạnh toàn hảo kia mà không có khả năng trí tuệ thì không thể nào đạt đến cứu cánh mong cầu, đạt thành giác ngộ. So với những khả năng khác, như tín tâm, tỉnh thức, tinh tấn, v.v.. trí tuệ được coi là quan trọng hơn vì xuyên qua khả năng trí tuệ, với sự bổ trợ của những khả năng khác, thì người ta có thể thực sự chiến đấu chống lại sự lôi cuốn của vọng tưởng. Những hạnh toàn hảo khác, như bố thí và trì giới, đều lệ thuộc rất nhiều về sự nhận chân của trí tuệ.

Sức mạnh của trí tuệ như là một vì vua đầy uy lực. Nếu được sự giúp sức của những vị quan vừa giỏi giang vừa thông minh, vị vua ấy sẽ chẳng gây ra lỗi lầm. Giống như vậy, trong một hoàn cảnh ngang trái, như có một tình thương và lòng từ bi mãnh liệt, không bị nhiễm ô bởi sự chấp trước và dục vọng, là nhờ vào tác động của trí tuệ. Với trí tuệ, cho dù chúng ta phát triển từ tâm và tình thương mạnh mẽ đến kẻ khác, thì chúng ta chẳng bao giờ nổi lên dục vọng và luyến ái đối với họ. Nếu chúng ta đã được trang bị bằng trí tuệ sáng suốt, ta sẽ không bị rơi vào hoàn cảnh cực đoan một cách thường trực.

Trở ngại của trí tuệ là si mê. Nguyên nhân xúc tiến và đẩy mạnh sự tăng trưởng của si mê chính là sự đam mê thường trực trong những sinh hoạt vô nghĩa, như lười biếng và ngủ nghỉ vô độ. Si mê cũng sinh khởi từ sự không có hoan hỷ và hứng khởi trong năng lực của trí tuệ. Phương thức để vượt qua sự si mê để tăng trưởng kiến thức hiểu biết là qua sự học hỏi. Với những ai thiết tha trong sự tu tập Phật Pháp, điều quan trọng là phải nhận thấy rằng, trí tuệ phân biệt một cách chân xác về bản chất của các hiện tượng, là nhân tố căn bản để đạt đến giác ngộ. Nếu một người chỉ chú trọng đến việc dạy dỗ mà không thực hành, thì không cần phải hấp thụ một kiến thức rộng rãi; nhưng thay vì dạy, có lẽ có ích lợi hơn nếu người ấy chỉ giữ im lặng. Với một người tu tập một cách nghiêm mật, thì cả hai, học hỏi và quán xét đều rất quan trọng. Sự tiến bộ trong việc thực hành phải tương ứng với sự tăng trưởng kiến giải về Phật Pháp. Có được kiếp người quý báu này mà lại có được bộ não phức tạp, chúng ta cần phải tận dụng tính năng đặc biệt của nó và áp dụng cơ năng mà ta được phú cho, đó là, khả năng phân biệt giữa đúng và sai. Việc này được đạt thành nhờ sự tăng trưởng hiểu biết của chúng ta. Kiến thức càng tăng, thì sự hiểu biết càng thêm rộng rãi.

Khi làm việc để đạt đến trí tuệ, điều vô cùng quan trọng là chúng ta đừng bao giờ tách biệt sự thực hành hạnh trí tuệ với các hạnh toàn hảo khác. Một hành giả tu tập để tiến tới giác ngộ cần phải thực hành cả sáu hạnh toàn hảo (Ba La Mật) khác. Chúng ta có thể rút từ bài học của chính Đức Phật. Ngài, trước hết, đã trải qua những sự hành xác gian khổ và trải qua nhiều nỗi gian nan trên tiến trình đạt đạo. Cuối cùng, dưới cội Bồ Đề, Ngài đã giác ngộ và dạy cho người khác những gì mà chính Ngài đã thực chứng. Cho dù sự khởi đầu rất khó cho chúng ta để nhảy vào thực hành sáu hạnh Ba La Mật, điều quan trọng trước tiên là chúng ta cần phải khởi lòng ngưỡng mộ và tăng bồi sự hiểu biết về các hạnh ấy. Điều này sẽ giúp chúng ta bước vào sự tu tập thực sự, giúp chúng ta tìm thấy được sự giải thoát những khó khăn khổ sở trong vòng luân hồi và hưởng được sự cực lạc của giác ngộ viên mãn.



Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: dieuphaptu@gmail.com