|
|
|
MỤC LỤC Tiếp 
Tựa
Bất sanh diệc bất diệc, bất thường diệc bất đoạn, bất nhất diệc bất dị, năng thuyết thị nhân duyên, thiện diệt chư hý luận, ngã khể thủ chư Phật, chư thuyết trung đệ nhất: Chẳng sanh cũng chẳng diệt, chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng đồng nhất cũng chẳng sai biệt, chẳng đến cũng chẳng đi, có thể đề ra, nêu lên nhân duyên này như là một phương tiện thiện xảo để triệt phá, chuyển hóa, tiêu hủy mọi lý luận. Con đê đầu đảnh lễ đức Phật, trong tất cả học thuyết, thánh giáo, cứu cánh toàn bị, không có bất cứ học thuyết đạo lý nào có thể vượt qua và sánh kịp.
Để mở đầu cho bộ luận đã và đang làm chấn động, không chỉ chấn động mà còn triệt hủy tất cả những tà kiến vọng chấp, Long Thọ bồ tát đã nêu ra bát bất Trung Đạo như là tiền đề xác định toàn bộ yếu chỉ của Trung Luận. Trong tám câu kệ tên, bốn câu đầu đã nêu lên Bát Bất duyên khởi , hai câu kế nói rõ tác dụng cũng như sự ích lợi thù thắng do Bát Bất mang lại và hai câu cuối cùng là để biểu tỏ sự tôn kính của tác giả đối với bậc đại giác đã tận tụy suốt đời vì chúng sanh mà giảng thuyết đạo lý duyên khởi trung đạo tối thượng. Nói gọn, hai câu cuối cùng vừa là để tán thán, thâm kính đức Phật nhưng đồng thời cũng để nêu lên một cách khái lược đạo lý cao tột đệ nhất nghĩa đế.
Có thể nói: Bát Bất duyên khởi Trung đạo là một đạo lý vô thượng, vô tỷ, có khả năng xô ngã, phá đổ triệt để và toàn diện tất cả mọi hý luận (prapãnca). Long Thọ bồ tát đã sử dụng Bát Bất như một phủ định toàn triệt – phủ định về phủ định và tự phủ định mà
“đối tượng vô tượng vô vô đối” phủ định lại chính là Không (Sùnyata) nhưng phi Không, phi Không nhưng Không mà Anh văn thường dịch:
Empty, void, absent, unreal, hay non-existent vân vân… Chữ Không (Sùnyata) mà Long Thọ thường sử dụng là Không Tính, là Thực tướng mà vô tướng của các pháp, là một nhận thức chân thực tuyệt đối mà không tuyệt ̣đối và toàn diện về thực tại mà phi thực tại, là cứu cánh mà vô cứu cánh, là nền tảng mà không nền tảng, cơ bản mà không cơ bản, tổng quát của Phật lý, nhưng dưới một khía cạnh nào đó thì, Không cũng được hiểu như là một phủ định từ, mà, đã được hiểu như là một phủ định từ thì, đối tượng bị phủ định phải là một đương hữu; thế thì,
“đối tượng” của phủ định hay “đối tượng” bị phủ định là gì? Là
“sự vật” (các pháp), là không là gi hay chỉ thuần túy giả danh, chỉ có danh xưng nhưng không thật thể? Thật sự, thật tướng của các pháp – muôn sự muôn vật là rỗng lặng, không tịch, là giả hữu giả thành, là bất khả đắc…Hữu vô sở đắc, Không vô sở đắc. Hữu là do nhân duyên mà hiện hữu. Không cũng do nhân duyên mà Không. Có Không đã hệ thuộc nhân duyên thì đương nhiên có, không ấy là vô tự tánh, mà, Hữu đã vô tự tánh thì Hữu mà Phi Hữu. Không mà vô tự tánh thì Không mà là bất Không. Bất Không nhưng lại đích thực là Không. Có chẳng khác Không, Không chẳng khác Có. Có chính là Không, Không tức là Có. Toàn có tức Không, Không như thế mới đích thực là Chơn Không. Toàn Không tức Có. Có như thế mới đích thực là Diệu Hữu. Tất cả các pháp đã là, vốn là, thực sự là Không Vô Tự Tánh mà, đã vô tự tánh thì tánh đó là gì nếu không là Viên thành thật tánh? Mà, đã là viên thành thật tánh thì làm gì có dù chỉ là mảy may vô minh, vọng chấp, tà kiến, vọng tưởng, điên đảo vân vân… Nói khác hơn: Tất cả mọi kiến trúc của ý niệm, mọi sản phẩm của tri thức nhị nguyên, mọi phạm trù, biện chứng, luận lý, khái niệm vân vân… đều bị bát bất triệt hủy toàn bộ và tận gốc. Từ đó có thể thấy rõ ràng: Duyên Khởi Trung đạo chỉ đánh đổ, phá bỏ, triệt hủy kiến chấp chứ không đánh đổ phá trừ các pháp, lý do là vì các pháp vốn vô sở hữu, là bất khả đắc, là vô tự tánh, vì do duyên khởi, chỉ có giả danh, chỉ có giả danh nhưng vô tự tánh, mà, đã vô tự tánh, chỉ có giả danh thế thì có pháp gì để phá, để triệt? Hơn nữa, ngay cả cái mà ta tọi là tà kiến, vọng tưởng vân vân… cũng chỉ là tên gọi, thuần túy tên gọi – giả danh, mà đã giả danh thì đương nhiên là không thật hữu, đã không thật hữu thì tất nhiên chẳng có gì để phá, để trừ; vì thế mục đích của Long Thọ là nhằm chỉ rõ để mọi người tri nhận được rằng tất cả những gì mà ta tri nhận đã không là như là ta đang tri nhận bởi lẽ:
Như lai kiến ư tam giới bất như tam giới sở kiến, phi như phi dị (Kinh Pháp Hoa) để từ đó và do đó chuyển tà thành chánh, liễu đạt thật tướng của muôn sự muôn vật, và, siêu việt mọi phân biệt Hữu Vô.
Một cách siêu phàm bạt tục, Long Thọ đã dựa vào Duyên khởi Pháp (Pratityasamutpàda) để thuyết minh Trung Đạo (Madhyamà-pratipad) tức Không (Sùnyatà) siêu việt Hữu Vô, chuyển mọi kiến chấp. Do thế, duyên khởi Trung Đạo được trình bày trong
Trung Luận là một dung hợp tuyệt hảo giữa Nhị Đế Chơn, Tục và trở thành một Siêu Biện Chứng có khả năng chuyển hóa mọi biện chứng, nếu nói rõ hơn, duyên khởi bát bất trung đạo hay giản đơn hơn: Trung Đạo chính là thật tướng của các pháp, là bản lai diện mục của vạn hữu sum la, là viên thành thật tánh, là tất cánh không, là pháp giới trùng trùng duyên khởi nhưng đồng thời cũng là a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, là bát nhã ba la mật vân vân và vân vân. Mà bát nhã ba la mật là gì nếu không phải là trí tuệ đã đạt ̣đến trình độ vô chấp, như như bất động có khả năng quán chiếu và liễu giải toàn triệt vạn pháp giai không, là vô sở hữu, là bất khả đắc và hoát nhiên đại ngộ, tâm thức bùng vỡ, tuệ giác siêu việt rạng rỡ chói lọi như mặt trời chánh ngọ như lục tổ Huệ Năng đang khi gánh củi bên cạnh bìa rừng bỗng nghe
“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” của Kinh Kim Cang nhiệm mầu thù
thắng?
Từ duyên khởi Trung Đạo, nhị đế được thiết lập, và, do nhị đế được thuyết giảng mà thấy được bản chất vô ngại của hữu vô. Nắm được mấu chốt này là thẩm nhập tức khắc vào kho tàng bảo vật vô giá của Phật Pháp, là chứng đắc quả vị giải thoát niết bàn, là thỏng tay đi vào chợ đời như đang vân du tự tại trong cảnh giới đặc thù tự giác; bởi vậy, bồ tát Long Thọ đã khẳng định:
Chư Phật y nhị đế, vị chúng sanh thuyết pháp, nhất dĩ thế tục, nhị đế nhất nghĩa ̣đế, nhược nhơn bất năng tri, phân biệt ư nhị đế, ư thâm Phật pháp, bất tri chân thật nghĩa”
và mãnh liệt hơn: “Nhược bất y tục đế, bất đắc đệ nhất nghĩa, bất đắc đệ nhất nghĩa, tắc bất đắc niết bàn.”
Có thể khẳng quyết rằng, Trung Luận là một bộ luận vô cùng thâm áo và tối cực trọng yếu. Đã có ít nhất là hàng trăm luận án tiến sĩ và tác phẩm của những học giả nổi danh trên thế giới viết về Trung Luận chỉ vì tư tưởng thẳm sâu bất khả tư nghì của nó.
Thuở ấu thời, kịp khi vừa tròn sáu tuổi, ngay từ lúc bước chân vào chùa, tôi đã có thiện duyên nghe đến danh từ
Trung Luận dù lúc đó tôi chưa hề có bất cứ một ý niệm hay hiểu biết gì về nó.
Vị thủ tọa của Tổ Đình Thập Tháp, một người đã bảy mươi tuổi ngoài đã thường xuyên lập đi lập lại danh từ
Trung Luận mà đặc biệt là Ông đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của Trung Đạo. Cứ mỗi lần dạy tôi gõ nhịp trường canh của mõ là mỗi lần tôi có dịp được nghe thầy ấy nói về ý nghĩa của Trung Đạo. Mãi đến khi học về Bát Nhã và đủ khả năng Hán ngữ để đọc thẳng vào Trung Luận cũng là lúc mà tôi bắt đầu quan tâm đặc biệt về tư tưởng Tánh Không dù phải bị bắt buộc học rất nhiều những kinh luận khác. Từ nhiều năm qua tôi đã sống với và bằng tư tưởng Tánh Không của Phật giáo, và chính nhờ sống với và bằng vào sự hít thở tư tưởng của Trung Luận mà thường khi tôi đã vượt qua được những khó khăn trên đường đi đó đây để tranh đấu cho nhân quyền tại nhiều nơi trên thế giới.
Tôi đang viết lời tựa của bản dịch Trung Luận này nơi phòng khách của trụ sở Quốc Hội Âu Châu tại Bỉ. Đã không ít lần gặp vị nguyên thủ quốc gia, các bộ trưởng, nghị sĩ, dân biểu, chính khách vân vân… tại các hội nghị nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và những buổi tiếp xúc, trao đổi khác; theo thường tình, khi gặp các vị này, lòng con người sẽ nhớm lên một niềm ưu tư nào đó dù sự ưu tư ấy chẳng là gì cả và chẳng mang bất cứ ý nghĩa nào trong đời sống; nhưng với tôi, tư tưởng Tánh Không đã làm lắng dịu và tịch lặng tất cả mọi vọng động của niềm ưu tư về tự ngã và điều này đã thắp sáng tâm thức tôi về thật tướng của các pháp trong đó có cả sự huyễn hư tạm bợ của cuộc đời.
Chính vì ý thức được điều đó, và chính vì tầm vóc tối cực trọng đại của
Trung Luận, nên, dù đang bận rộn với bao nhiêu Phật sự quan trọng khác, tôi vẫn không một phút giây nào dám lãng quên việc tiếp tục tư duy tư tưởng Tánh Không, và, bằng mọi cách có thể, nỗ lực tranh thủ thời gian để
Trung Luận được hiển hiện thành ngôn ngữ mẹ đẻ nhằm góp phần vào công cuộc truyền bá chánh pháp trong thời đại pháp nhược ma cường.
Có một ít người quan niệm: Tánh Không là một tư tưởng hão
huyền không thực tế, nó chẳng mảy may ích lợi nào trong cuộc sống
hiện đại, nhất là trong lãnh vực hạnh phúc lứa đôi. Khi phát biểu như
vậy, trên căn bản, họ đã hoàn toàn rơi vào sai lầm nghiêm trọng. Từ
nhiều thế hệ và mãi đến hôm nay, lịch đại Tổ Sư vẫn sử dụng Bát
Nhã Tâm Kinh, một bộ kinh tinh yếu đánh thẳng vào trung tâm tối tăm sâu
thẳm của tâm thức con người để khai mở vùng trời tự tại toàn triệt
trong mỗi thời công phu thiền tọa mà từ một chú tiểu lên ba hay một
đại lão hòa thượng cũng đều ngày đêm trì tụng liên tục. Điều đó
phải chăng đã cho thấy tầm vóc quan trọng tuyệt đối của Bát Nhã Tánh
Không? Ấy thế mà ta không phải ngạc nhiên khi nghe bồ tát Long Thọ dõng
dạc tuyên bố: Nếu không nhờ và bằng vào Tánh Không, tất cả các pháp chắc hẳn đã không do đâu có thể thành lập.
Thời gian không lâu, Giáo sư học giả Nghiêm Xuân Hồng, có lần bảo: Thượng Tọa nên cho in sớm, tôi mà đọc được bản dịch Trung Luận của Thượng Tọa thì nếu có ra đi cũng không còn gì để nuối tiếc, và, triết gia Phạm Công Thiện vẫn thường hay thúc giục: thầy Tuệ Sỹ đang bị ngồi tù, dù thầy rất bận nhưng nếu thầy không hoàn thành bản dịch sớm thì thiệt thòi cho Phật Giáo Việt Nam lắm. Cho đến bây giờ, mỗi lần nghĩ đến những lời tâm huyết của hai bậc thức giả khả kính trên, tôi cảm nghe như mình đang mắc một món nợ tinh thần nào đó. Chính vì vậy mà, bên cạnh những lý do khác, tôi luôn luôn cưu mang trong lòng một hoài bão nhỏ là hoàn tất sớm bản dịch
Trung Luận và tiếp tục viết về tư tưởng Trung Luận.
Gần ba năm nay, dù đã hai lần hoàn tất bản dịch, nhưng, với kiệt tác vô tiền khoáng hậu này ắt hẳn không sao tránh khỏi những khiếm khuyết vô ý, do vậy nếu có, rất mong các bậc cao minh hoan hỷ phủ chính cho. Nhân đây, người dịch xin chân thành tri ân triết gia Phạm Công Thiện, một bậc đại thiện tri thức đã bỏ công đọc lại bản thảo và viết lời giới thiệu dù đang bận rộn với bao nhiêu công trình văn hóa và triết học; đồng thời cảm ơn tất cả quý anh em trong Trung Tâm Chân Nguyên và Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới cũng như toàn thể chư Phật tử tại Chùa Diệu Pháp đã trợ duyên rất nhiều để bộ
Trung Luận này được ấn loát và phổ biến rộng rãi. Thành kính hướng về nơi Tổ Đình Thập Tháp cổ kính uy nghiêm xa xôi diệu vợi và ngày một xiêu tàn đổ nát bởi thời gian, con đê đầu đảnh lễ Hòa Thượng bổn sư thượng Kế hạ Châu đã dày công giáo dưỡng mà đặc biệt là đã tận tâm hướng dẫn trọn bộ Thái Hư Đại Sư cũng như các bộ kinh luận cốt tủy có liên quan đến Tánh Không và bốn quyển
Trung Luận.
Xin hồi hướng công đức về nhất thiết chủng trí, đặc biệt cầu nguyện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại quê nhà sớm vượt qua cơn pháp nạn.
Mùa Pháp Nạn, trụ sở Quốc Hội Âu Châu
Bỉ quốc, ngày 04 tháng 11 năm 1994
Dịch giả cẩn bút
MỤC LỤC Tiếp 
|
|
|