|
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
|
|
PHẬT GIÁO HƯỚNG DẪN THẾ KỶ 21
Dịch Giả: Thích
Viên Lý
THAM LUẬN I
PHẬT GIÁO HƯỚNG DẪN VÀ CHỈ ĐẠO
Ở THẾ KỶ 21
Hòa Thượng
Tịnh Tâm (Ching Hsin)
Sở Nghiên Cứu Phật Giáo Tịnh Giác, Đài Loan
1. LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử nhân loại, bắt đầu từ thời
săn bắn tiến đến thời đại tân tiến ngày nay, với biết bao nỗ lực của các
nhà kỹ sư chuyên nghiệp và các khoa học gia đã góp phần nâng cao mức
sống con người kể từ hơn 150 năm qua. Những phát minh khoa học cũng đồng
thời nâng cao kỹ thuật quân sự vì mọi quốc gia đã không ngừng tân tiến
hóa mọi loại vũ khí quốc phòng của họ. Và do vậy, nhân loại đang trực
diện với nhiều nguy cơ khốc liệt.
Các phát minh khoa học cũng đồng lúc
ấy mang đến rất nhiều ô nhiễm và đang tàn phá môi sinh.
Sự tàn phá môi sinh như vậy đã thật
sự gây nguy hại cho sức khoẻ của hàng triệu người và đã đưa đến những
tranh đua dữ dội để sinh tồn, đã khiến cho xã hội văn minh ngày nay mắc
phải rất nhiều căn bệnh tâm lý. Những vấn nạn như vậy, nếu không sớm
được giải quyết sẽ gia tăng con số trên bảng tử vong, gióng tiếng chuông
cáo phó cho toàn thể nhân loại và để cho con cháu chúng ta không gì khác
hơn là những thổ ngơi hoang tàn hư hoại.
Không giải quyết được những vấn nạn
của thời đại cũng có nghĩa là chúng ta sẽ phái đối phó với nhiều biến
chứng phức tạp -- những vấn nạn mới lại chồng chất lên những vấn nạn mới
khác nữa. Và điều này sẽ mang đến một hậu quả tượng hình của khổ đau và
thảm họa. Trong kinh Di Giáo A Na Luật Đà Tôn Giả nói: “Đức Phật thuyết
giảng Khổ Đế là một chân lý khổ đau của đời sống không thể tịnh lạc.”
Phát biểu này đã hoàn toàn chân xác. Hơn nữa, kinh Pháp Hoa đã dạy: “Ba
cõi không an, chẳng khác nào căn nhà lửa đầy đắng cay khổ hoạn. Thật
đáng kinh khiếp.”
Sự kiện khoa học đã cải thiện nhiều
vấn nạn không thể giái quyết được trước kia bằng sức mạnh con người, đã
khiến nhiều kẻ ngưỡng vọng khoa học kỹ thuật như một đấng Thượng Đế toàn
năng. Bởi vì các phát minh khoa học đã nâng cao lạc thú vật chất, nên
rất nhiều người đã mù quáng chạy theo lạc thú. Chúng ta đã đánh mất
chính mình trong nền văn minh khoa học và vật chất ấy.
Vì vậy, Đức Thế Tôn đã dạy trong kinh
Pháp Hoa: “Ta dùng Phật nhãn quán sát thấy chúng sanh trong sáu nẻo luân
hồi như kẻ bần cùng thiếu phước, bước vào đường hiểm sanh tử, đắm chìm
nơi năm món dục lạc và đầy dẫy khổ đau cay đắng. Như con trâu yêu mến
chiếc đuôi của nó và dễ dãi với tham đắm nên không còn thấy chi khác nữa.”
Là những đệ tử của Đức Phật, chúng ta
cần thừa tiếp tâm đại bi của đấng từ phụ để gánh vác sứ mệnh hoằng pháp
lợi sanh. Những lời dạy sâu sắc vi diệu của ngài sẽ hướng dẫn và chỉ đạo
nhân loại bước vào ngưỡng cửa thế kỷ thứ 21: một thế kỷ được thấm nhuần
phúc lành thanh tịnh hầu giảm thiểu được các tai họa mang đến bởi khoa
học và kỹ thuật.
Khi lấy đề tài “Dẫn Đạo Nhân Loại
trong Thế Kỷ 21” làm chủ đề cho cuộc hội nghị học thuật ngày, chúng ta
cần phải dự đoán thế giới trong thế kỷ 21 sẽ như thế nào, hình thái xã
hội và hoàn cảnh xã hội lúc đó sẽ ảnh hưởng quan niệm tư tưởng của chúng
ta ra sao? Tuy danh xưng “thế kỷ 21” không giống “thế kỷ 20” nhưng sự
tiến hoá của xã hội nhân loại luôn mang tính chất liên tục. Quá trình
tiến hoá vẫn luôn dựa trên những nền tảng hiện hữu. Tương lai không thể
tách chia xa hẳn quá khứ và hiện tại được. Điều này đã cho phép chúng ta
dự đoán thế giới tương lai từ những sinh động xã hội hiện thời. Những gì
chúng ta mục kích trước mắt là một tối thượng thoải mái về vật chất cho
một số người và một nỗi niềm bi ai thống khổ cho nhiều người khác. Và
nguyên nhân của các khổ nạn thời đại trên đây rất đáng cho chúng ta lưu
tâm.
2. THẾ KỶ 21 LÀ THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG ĐIỆN TOÁN
Quả thật hợp thời trang để người ta
nói rằng: “Không biết điện toán, không làm sao tiến vào thế giới ngày
mai.” Điều này phản ảnh thế kỷ 21 là thời đại cách mạng viễn thông điện
toán. Kỹ thuật điện toán sẽ thống lãnh tương lai nhân loại. Máy điện
toán từ cá nhân giao dịch với cá nhân; vượt đến hình thức mạng lưới điện
toán toàn cầu, được sử dụng trong hầu hết mọi lãnh vực, phục vụ cho các
cơ quan chính phủ, giới xí nghiệp, gia đình v.v... để nâng cao hiệu năng
và trách vụ công việc
Chùa Quang Đức (ở Đài Loan) từ năm
1982 đã bắt đầu sử dụng điện toán để giải quyết sổ sách cho công trình
kiến thiết xây cất, để quản lý sổ sách kế toán một cách chính xác và
tiện lợi hơn; đồng thời tiết kiệm được rất nhiều nhân lực, khiến tôi có
cảm giác sâu xa rằng sự phát triển điện toán đích thực đã tạo được phúc
lợi cho nhân loại. Điện toán ngày nay không những phân biệt được chữ
viết bằng tay mà còn có thể phiên dịch nội dung thành nhiều ngôn ngữ
khác nhau. Các khoa học gia ngành điện toán đã lạc quan dự đoán rằng
trong tương lai máy điện toán sẽ trực tiếp nối thẳng vào não bộ của con
người và mọi suy nghĩ trong đầu sẽ được máy này thay thế giải quyết hoàn
toàn. Sự việc nếu đến như thế, có lẽ mộng tưởng sẽ trở thành sự thật.
Năm 1946, Lục Quân Hoa Kỳ vì muốn
tính đường cự li đại bác bắn đi, đã ủy thác chế tạo bộ máy điện toán
đầu tiên trên thế giới. Chiếc máy ấy phải dùng 18 ngàn ống chân không,
trọng lượng đến 30 tấn. Hiện nay chỉ cần một máy điện toán bút ký có màn
ảnh đơn giản và chỉ nhỏ bằng một cuốn sách cũng có hiệu năng mạnh hơn
rồi. Vả lại máy điện toán bút ký càng ngày càng được thu nhỏ gọn hơn,
công năng gia tăng nhiều hơn. Phương thức sử dụng máy điện toán ngày
càng phổ cập đến nỗ các quốc gia tân tiến không thể có đời sống sung mãn
xa hoa nếu tách rời máy điện toán vi tính. Mặt khác, vấn đề phạm pháp
điện toán (computer crime) lại trở thành một vấn nạn mới của xã hội mà
chưa từng xảy ra trong quá khứ.
Ngày nay, chúng ta đã từng thấy hiệu
năng chính xác của các loại máy điện toán hướng dẫn phi đạn để bắn trúng
mục tiêu trong cuộc chiến vùng Vịnh giữa Hoa Kỳ và Iraq năm 1990. Do vậy,
máy điện toán có thể mang đến phúc lợi cho nhân loại hay huỷ diệt nhân
sinh. Tuy nhiên, máy móc vẫn tùy thuộc vào sự sai khiến của con người:
sử dụng điện toán tạo phúc lợi nhân loại là do lòng người; thao túng
điện toán để hủy diệt nhân loại cũng do lòng người. Do đó, để phòng ngừa
sự lạm dụng loại kỷ thuật tân tiến như vậy, trước hết, ta cần bắt đầu
chỉnh đốn tâm thức con người. Và quan trọng hơn cả, là hãy áp dụng các
lời dạy của Đức Phật để hướng dẫn con người tiến bước trên chánh đạo
3. DÙNG CẠNH TRANH KINH TẾ THAY THẾ ĐẤU TRANH VŨ LỰC
Trong quá khứ, để chế ngự đối phương,
các quốc gia đã dùng đến vũ lực quân sự. Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai
đã gây tử thương cho hàng triệu sinh mạng nên những lãnh tụ của các quốc
gia Tây phương đã ý thức được rằng việc áp dụng vũ khí xâm lược để giải
quyết phân tranh giữa hai nước là việc lưỡng bại câu thương, nhất là sau
khi có càng nhiều quốc gia chế tạo vũ khí hạt nhân, khiến cho các cường
quốc cũng không dám mạo hiểm phát động chiến tranh nguyên tử. Vì phải
tránh việc song phương cùng bị tận diệt, thế là họ phải ngồi lại đàm
phán với nhau thay vì chiến tranh. Sau này, lại dùng sách lược cạnh
tranh kinh tế thay cho đấu tranh võ trang, mong rằng kinh tế phát triển
sẽ nâng cao tiêu chuẩn đời sống quốc dân, và dùng mãi lực kinh tế chinh
phục nước khác. Hiện nay có một số quốc gia tuy không bang giáo với nhau
nhưng có giao lưu kinh tế mậu dịch, hoặc sau khi đoạn giao vẫn tiếp tục
duy trì giao thương. Trên bình diện khác, điều đó chứng minh rằng cán
cân kinh tế mậu dịch nặng hơn mặt bàn chính trị.
Nhật Bản trong Thế Chiến II do
thiếu thốn vật chất, lực lượng kinh tế yếu kém mà dẫn đến chiến bại. Sau
khi phát giác không thể ỷ vào vũ lực và nhận thức lực lượng kinh tế
trọng yếu hơn, nên đã chuyển sang tích cực phát triển kinh tế. Trải qua
mấy mươi năm cố gắng, hiện tại đã trở nên một cường quốc về kinh tế. Sức
mạnh kinh tế của Nhật đã lan khắp các nước trên thế giới, thậm chí ảnh
hưởng đến kinh tế toàn cầu. Đây là một sự thật minh chứng về sách lược
cạnh tranh kinh tế thay vì đấu tranh vũ lực.
Loại chạy đua kinh tế này đã ảnh
hưởng làm cho những quốc gia lạc hậu phát triển từ mức chậm tiến lần
lượt chuyển biến thành các quốc gia trên đà phát triển. Có thể dự đoán,
thế giới tương lai sẽ là thời đại chiến kinh tế. Chiến tranh kinh tế đối
với sự xung kích nhân loại có lẽ so với phương hại do chiến tranh vũ khí
trước kia càng lớn hơn. Mục đích của sự phát triển kinh tế là muốn nâng
cao mức hưởng thụ vật chất sinh hoạt, nhưng vì dục vọng con người vô
giới hạn nên nhân loại đối với nhu cầu vật chất vĩnh viễn không thỏa mãn,
vì thế, người tuy có đời sống vật chất phong phú mà sinh hoạt tinh thần
chẳng những trống trơn, còn ẩn đầy đau khổ.
Ở trong hoàn cảnh đua tranh kinh tế,
rất nhiều người vì đeo đuổi tài sắc danh lợi mà lạc mất chính mình.
Tương lai rất có thể càng có nhiều người cho rằng chỉ cần có tiền thì
mọi vấn đề có thể giải quyết, nguyện vọng nào cũng đều có thể đạt thành,
thế là quan niệm sai lầm “kim tiền vạn năng và cấp công cộng lợi” sẽ
càng in sâu và trí não mà tạo nên càng nhiều vấn nạn xã hội. Đối với sự
tham đắm vào chủ nghĩa hiện thực khiến con người lạc mất ý nghĩa nhân
sinh, nên dùng những giáo nghĩa Phật giáo như vô thường, vô ngã, tịnh
hóa tâm linh để tái định một cách chính đáng về giá trị nhân sinh.
4. LÀN SÓNG TỰ DO DÂN CHỦ DÂNG CAO
Sau khi đầu não tập đoàn cộng
sản thế giới Liên Xô giải thể, các nước Cộng Sản Âu Châu thay đổi hẳn bộ
mặt. Trên thế giới, những quốc gia còn bám theo chủ nghĩa Cộng Sản sót
lại không bao nhiêu, đã bị ép buộc áp dụng chánh sách tự do khai phóng
có giới hạn. Đây chính là ý vị làn sóng tự do dân chủ đã quét ngang qua
toàn thế giới. Loại làn sóng dân chủ này khi càng ập đến càng dâng cao.
Nhưng con người vốn ích kỷ do
tham dục thúc đẩy, đều chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư mà không nghĩ đến
lợi ích chỉnh thể của quốc gia xã hội. Thế là, vì lợi ích riêng hoặc vì
một thiểu số người mà đã hành động mốt cách không tiếc thương, phá hoại
xã hội đại chúng và quốc gia cho đến cả thế giới nhân loại. Con người
hiện tại khôi hài ở chỗ tất cả đều muốn quét sạch rác rến nhà mình nhưng
lại không cho phép nhà bên cạnh thiết lập sân đổ rác, đắp lò đốt rác.
Mọi người đều mong được cung cấp điện đầy đủ nhưng lại không cho phép
xây cất xưởng phát điện gần nhà mình. Đây là hiện tượng thường thấy
trong xã hội các quốc gia dân chủ.
Ở trong xã hội dân chủ mở ngỏ, mọi
người muốn tự do, tranh dành tiếng tăm và đều có lề lối tư duy và chủ
trương khác nhau, tạo nên tư tưởng hỗn loạn. Người người không tuân thủ
pháp luật, thế là tạo nên hiện tượng thoát ly trật tự xã hội. Loại hiện
tượng này trong tương lai vẫn còn tiếp tục, thậm chí sẽ còn thất nhân
tâm, mất nhân tính.
Mỹ quốc là đầu rồng của mặt trận tự
do dân chủ, nhưng căn cứ vào báo chí, tôn gioá, mức tội phạm ở Mỹ hiện
nay gia tăng đến con số 10 triệu người. Điều này đủ chứng minh sức quản
chế của chính phủ tại các quốc gia tự do dân chủ đối với công dân của họ
càng ngày càng yếu ớt. Hút hít các loại thuốc có chất ma túy, tỷ lệ các
loại tội phạm tăng gia, thanh thiếu niên phạm pháp càng nhỏ tuổi hơn v.v...,
tuy ngày càng thêm nghiêm trọng nhưng chính quyền thúc thủ vô phương
sách.
Dưới tình trạng này, chỉ có dựa vào
lực lượng Phật giáo mới có thể tái kiến lập trật tự xã hội. Chúng ta nên
hoằng dương Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định để dẫn đạo
nhân loại bước hướng đến con đường nhân sinh một cách chính xác.
5. VẤN ĐỀ CÁCH BIỆT GIÀU NGHÈO
Hiện tại, nhờ thụ hưởng ích lợi từ
khoa học, kỹ thuật và làm việc chăm chỉ, những người ở quốc gia mở mang
tiên tiến được hưởng đời sống vật chất sung túc thỏa mãn. Nhưng trên địa
cầu vẫn còn hơn 2 tỷ người sinh sống trong tình trạng dơ bẩn không được
bảo vệ sức khỏe trong điều kiện có thuốc men chữa trị thích đáng, sống
cuộc sống khỏe mạnh.
Đồng ý là do khoa kỹ phát triển, tổng
sản lượng lương thực được nâng cao; nhưng đối với các nước nghèo chưa kỹ
nghệ hóa, mức cung cấp lương thực cho cư dân lại tùy thuộc những yếu tố
như hạn hán, chiến tranh và các thiên tai khác quyết định. Hiện nay, có
khoảng 800 triệu dân số tại những quốc gia lạc hậu đang lâm vào tình
trạng thiếu dinh dưỡng. Trong tổng số thiếu dinh dưỡng đó, đến 2/3 là
giới trẻ em. Những nạn nhân thiếu dinh dưỡng khác, thân thể họ hư nhược,
dễ sanh bệnh tật, tuổi thọ ngắn ngủi. Căn cứ vào thống kê, năm 1992 ở
Phi Châu trên 40 triệu người bị đói khổ; gần một nữa nhân số Nam Phi
đang gặp phải nạn thiếu lương thực trầm trọng. Không ít người đã thiếu
ăn mà chết, trong số ấy thiếu nhi chiếm đa số.
Trái lại, trên địa cầu này, ước độ
một tỷ người cư trú ở các quốc gia tiên tiến, hằng ngày hưởng thụ thặng
dư vật chất, lãng phí quá nhiều năng lượng, khiến tài nguyên trên địa
cầu kho cạn nhanh thêm, đe dọa nghiêm trọng sự sinh tồn của nhân loại
tương lai. Hiện nay, mức sinh sống của nhân loại đang nằm trong trạng
thái hai cực đoan của sự cách biệt giàu nghèo. Hiện tại tuy rằng văn
minh vật chất phồn thịnh, nhưng cũng chỉ có khoảng 1/5 nhân khẩu trên
địa cầu thụ hưởng được cuộc sống vật chất ưu đãi.
Mặc dầu đây là việc hết sức bất công
bằng, nhưng thế giới tương lai là thời đại chạy đua cạnh tranh khoa học
kỹ thuật kịch liệt; và bởi vì những nước nghèo khổ lạc hậu không có năng
lực kinh tế để phát triển khoa kỹ, đã tạo nên cự ly cách biệt với các
quốc gia tiên tiến càng ngày càng xa. Vì thế, sau khi tiến vào thế kỷ
21, cách biệt giàu nghèo giũa nhân loại không những không sao giải quyết
mà còn có thể sẽ càng nghiêm trọng hơn.
6. PHÁ HOẠI SANH THÁI TỰ NHIÊN
Những quốc gia tiên tiến trên địa cầu
đang gấp rút phát triển công nghiệp. Cùng lúc với sự phồn vinh kinh tế,
sự phá hoại sanh thái thiên nhiên đồng thời cũng nhanh chóng không kém.
Xe hơi thải khói, chất độc phế thải từ nhiên liệu hóa học, khí ga của
máy lạnh thải hơi, v.v..., những hơi thải hóa học này tạo nên sự phá
hoại đại tần khí quyển, đã gây ô nhiễm nghiêm trọng trên địa cầu và
khiến cho khí hậu hỗn loạn.
Mùa hè năm nay, có rất nhiều khu vực
trên địa cầu vì nhiệt độ khí ấm quá nên đã gây nên nóng bức làm chết khá
nhiều người. Căn cứ năm nay (1995) báo ngày 13 tháng 9 đăng tin: “Báo
cáo của Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới, hiện nay diện tích lỗ hổng trên tầng
dưỡng khí ozone ở Nam Cực đã nới rộng đến 10 triệu cây số vuông, lớn
bằng cả Âu Châu”. Tổ chức này cảnh cáo rằng: Nếu lỗ hổng tầng dưỡng khí
ozone rách lớn không ngừng, sự khúc xạ của tia ngoại tuyến liên tục duy
trì ở mức cao thì tỷ lệ mắc bệnh ung thư của nhân loại và động vật sẽ
còn tăng vọt thêm nhiều.
Hậu quả tai hại khác của sự kiện nói
trên là làm ảnh hưởng mức sanh sản của nông-gia súc giảm thiểu, sản
lượng lương thực toàn cầu thiếu hụt nghiêm trọng. Đó là những yếu tố đe
dọa sự sinh tồn của nhân loại.
Loại hoàn cảnh đời sống đang nguy
hiểm hóa trên địa cầu này, trừ phi đình chỉ việc phát triển công nghiệp
hiện đại, khoa kỹ hóa; hoặc đối với nguồn ô nhiễm hóa công nghiệp phải
có sách lược đối phó, nếu không, môi sinh trên địa cầu sẽ càng lúc không
thích hợp cho nhân loại cư trú. Vì thế, chúng ta nên thức tỉnh và thận
trọng hỏi lại: “Khoa học văn minh mang đến cho nhân loại những gì?”
Nhân loại vì truy cầu hưởng thụ vật
chất mà phát triển khoa kỹ, khoa kỹ văn minh tuy hữu ích cho nhân loại
không ít nhưng ngược lại cũng sinh ra hậu quả trầm trọng. Nhân loại
không thể vì vậy mà quay lại phục hồi cuộc sống thời đại nguyên thủy,
tuy nhiên vì sự sanh tồn chung của nhân loại, mọi người đều có trách
nhiệm bảo vệ hoàn cảnh địa cầu.
Không gian địa cầu nhờ văn minh khoa
học nên có được sự thông tin hữu hiệu truyền theo tần sóng, và nhờ vào
máy móc điện toán tối tân mà thu hẹp lại. Gần đây thịnh hành danh từ
“ngôi hàng toàn cầu” địa cầu rộng lớn đã biến thành một thôn làng. Người
sinh tồn trên trái đất khắng khít và tương quan nhau về lợi ích cũng như
nguy hại, và cùng nhau được mất; vì thế, nên dùng nhân duyên quán tương
y tương tồn của Phật giáo, hỗ trợ hợp tác nhau, cùng nhau bảo vệ sanh
thái thiên nhiên, phục hồi trạng thái quân bình của hoàn cảnh sinh hoạt.
Nhật Bản đã là một nước lớn về kinh
tế trên thế giới, Trung Hoa Dân Quốc và Đại Hàn cũng trong số bốn con
rồng Á Châu, đều là những quốc gia kinh tế phồn thịnh, những nơi đời
sống sinh hoạt vật chất giàu có, chúng ta hưởng thụ hằng ngày một mức
sống vật chất cao mà lãng phí nhiều tài nguyên trên địa cầu. Chúng ta
nên tiết giảm phúc lợi, cố gắng tiết kiệm tiêu phí, mang những dành dụm
tiết kiệm đó bố thí cho những người đang gặp phải đói khát khốn khổ. Nên
tiết kiệm tài nguyên hữu hạn trên địa cầu để dành cho con cháu đời sau
hưởng dụng. Khi chúng ta an nhàn hưởng thụ cao lương mỹ vị, phải nghĩ
rằng trên thế giới này có rất nhiều người vì đói khát mà kề gần tử vong.
Chúng ta nên lấy tinh thần từ bi vô
điều kiện và vô phân biệt, thực hành hạnh Lục Độ của Bồ Tát, vì tất cả
chúng sanh, duy trì và gìn giữ hoàn cảnh đại tự nhiên tốt đẹp, thúc đẩy
thi hành lý niệm Phật giáo lợi hòa đồng quân, san bằng hố cách biệt
giàu nghèo, hưởng thụ tài nguyên trên địa cầu một cách bình đẳng. Thế
giới tương lai, nên lấy Phật giáo Đại thừa làm nguyên lý chỉ đạo nhân
loại, từ đó, mới có căn bản để giải quyết vấn đề, mang lại hạnh phúc cho
nhân loại.
7. VẤN ĐỀ NHÂN SỐ
Trong thế giới tương lai, vấn đề
nghiêm trọng nhất, khó giải quyết nhất, đó là vấn đề nhân số tăng vọt,
hay gọi là vấn đề nhân mãn. Theo Dã Bản Chiếu Như tiên sinh, tác giả
“Khoa học văn minh có hay không có tương lai”, đã đưa ra tài liệu: Vào
đầu Kỷ Nguyên nhân số thế giới ước khoảng 2,3 trăm triệu người, năm 1650
có 500 triệu, năm 1850 có 1 tỷ 100 triệu, năm 1930 lên 2 tỷ, 1950 lên
đến 2 tỷ rưỡi, 1960 là 3 tỷ, 1970 là 3 tỷ 6, 1979 lên đến 4 tỷ 3. Tài
liệu trên cho thấy rõ, sau cuộc cách mạng kỹ nghệ, nhân khẩu tăng lên
mau chóng. Dựa trên thống kê 1992, nhân số trên địa cầu đã vượt qua 5 tỷ
400 triệu người, trong số ấy Á Châu chiếm 55,8%, thế mà nhân số trên địa
cầu vẫn không ngừng tăng vọt phi mã.
Căn cứ thêm, theo số liệu của Quỹ
Nhân Khẩu Liên Hiệp Quốc (UNFPA), mùa xuân năm 1987 trong quyển “Nhân
Khẩu Bạch Thơ” báo cáo như sau: Tháng 7 năm nay, nhân khẩu thế giới sẽ
vượt qua 5 tỷ. Và ước lượng rằng nhân số thế giới mỗi phút sanh ra độ
150 người, mỗi ngày khoảng 220,000 người, mỗi năm tăng gia khoảng 80
triệu người, vì thế dự đoán đến năm 2000 nhân số thế giới sẽ tăng đến 6
tỷ, năm 2010 vượt qua 7 tỷ người, năm 2020 sẽ đạt mức 10 tỷ người. Tức
là sau không đầy 30 năm, nhân khẩu thế giới dường như tăng gấp đôi. Con
số này nghe qua, chúng ta rất lo âu, bởi vì nhân khẩu bành trướng sẽ làm
cho phẩm chất sinh hoạt càng tồi tệ hơn. Nhân khẩu thế giới nếu cứ nhanh
chóng tiếp tục tăng lên như thế thì qua thêm 300 năm, địa cầu này sẽ
không còn chỗ dư để trồng trọt.
Hiện tại, một số quốc gia tiên tiến
đang tích cực phát triển khoa học không gian, tìm kiếm những tinh cầu
thích hợp cho nhân loại cư trú. Giả như đến một ngày, khám phá trong vũ
trụ có tinh cầu thích hợp cho con người cư trú, và giả sử như đưa nhân
loại dời đến đó thì nhân số bành trướng không ngừng trên địa cầu có thể
giải quyết được. Dự đoán tương lai về vấn đề nhân số trên địa cầu, có
thể có ba tình huống dưới đây:
1. Trong không gian vũ trụ phát hiện có tinh cầu có điều kiện sinh sống
như địa cầu, đưa một số lớn con người dời đến đó ở để giảm thiểu áp lực
nhân khẩu trên địa cầu.
2. Bùng nổ đại chiến hạch tâm, hoặc thiên tai ôn dịch giết chết một số
lớn nhân khẩu nên giảm bớt mật độ nhân số trên địa cầu, làm dịu áp lực
nhân mãn.
3. Nhân số trên địa cầu không sao di cư ra ngoài không gian, cũng không
chết mất số nhiều mà lại tiếp tục gia tăng hơn nữa, đến nỗi có một ngày
đất đai khắp địa cầu bị nhân loại chiếm đầy, không còn đất dư để sản
xuất lương thực. Cuối cùng, nhân loại vì thiếu lương thực, toàn bộ đói
chết, từ đó nhân loại trên địa cầu bị tiêu diệt.
Hiện tại, ở những quốc gia nghèo khổ
lạc hậu trên địa cầu nhân số không ngừng tăng vọt, nhưng các chánh phủ
ấy nghèo đến nỗi không có ngân sách cho kế hoạch thúc đẩy tiến hành
việc giảm thiểu nhân khẩu. Trung Quốc đại lục tuy áp dụng nghiêm lệnh
“nhất thai chế” nghĩa là chế độ ép buộc chỉ có một con duy nhất cho một
gia đình chồng vợ, để cưỡng chế sự bành trướng nhân khẩu, nhưng không
những không thể giả quyết nạn nhân khẩu bành trướng, trái lại còn liên
đới sinh ra nhiều vấn đề khác.
Kỳ thực, biện pháp giảm thiểu nhân số
căn bản hữu hiệu nhất, là khuyến khích càng nhiều người xuất gia tu hành
qua cuộc sống độc thân càng tốt. Nhân loại trên địa cầu này chỉ cần 1/3
số người bằng lòng xuất gia tu phạm hạnh thì vấn đề nhân khẩu thế giới
nếu có bùng nổ, theo phương cách đó có thể giải quyết ngay. Vì thế, đối
với việc đức Phật chế định xuất gia pháp, chúng ta không thể không khâm
phục trí huệ ấy cao siêu thế nào!
8. THẾ KỶ TÔN GIÁO
Hiện nay, xã hội loài người do kinh
tế dẫn đầu nên con người sống trong xã hội này xem trọng đồng tiền, mù
quáng truy cầu quyền lợi ích kỷ cá nhân mà chẳng màng đến đạo đức và
tình nghĩa; vì thế quan hệ giao tế giữa con người trở thành quá đỗi lạnh
nhạt. Tuy nhiên, rất nhiều người cũng đã đánh mất niềm tin vào sự hữu
hiệu của khoa học, kỹ thuật và tôn giáo, và họ cảm thấy không an toàn.
Vật chất văn minh tuy tràn ngập nhưng trái lại làm cho lòng người cảm
thấy không an vui, không hạnh phúc.
Hiện tại, phần đông con người tuy
sống đời sống vật chất thật phong phú nhưng tâm linh lại rất trống trải.
Họ ở
trong đời sống vật chất giàu có nhưng lại không được thỏa mãn phần tâm
linh, đương nhiên họ chỉ còn cách quay về
hướng tôn giáo để tìm nơi ký thác tâm linh. Bởi vì tâm linh lâu ngày rơi
vào trạng thái khô kiệt, cho nên một khi tiếp xúc với Phật giáo thì liền
đối với tôn giáo phát sanh lòng khao khát tín ngưỡng vô hạn. Tôi gọi
loại trạng thái tâm lý này là “khao khát tầm cầu tôn giáo.” Càng đề cao
đời sống sinh hoạt vật chất, những người khát cầu đối với tôn giáo sẽ
càng ngày càng nhiều.
Nói cách khác: Người nào đời sống vật
chất càng thừa mứa thì sinh hoạt tinh thần càng nghèo thiếu, càng cần
thiết lấy tôn giáo làm nơi ký thác tâm linh. Vì thế, có người dự đoán
rằng thế kỷ 21 sẽ là “Thế kỷ của Tôn Giáo” đây là một sự tin tưởng rất
hữu lý. Thực ra, thế kỷ tôn giáo đã bắt đầu từ rất sớm, tỉ như Nhật Bản
sau trận đệ Nhị thế chiến, sự thành lập rất nhiều đoàn thể tôn giáo mới
được hưng khởi, hơn nữa, các tôn giáo ấy đều có rất nhiều người tín
ngưỡng. Tại Đài Loan cũng nảy sinh một số tôn giáo mới và có tín đồ
không ít. Sự hưng khởi của những tôn giáo mới này chính là phản ứng đối
với vấn đề xã hội hiện thực và trạng thái tâm lý con người văn minh.
9. KẾT LUẬN
Con người văn minh hiện đại, ngoài sự
thất vọng với khoa kỹ tân tiến mà chuyển hướng sang tôn giáo để truy cầu
chân đế nhân sinh, sự kiện này đương nhiên là việc rất có ý nghĩa. Nhưng
hình thức cũ kỹ của tôn giáo chính thống và nét hung hăng của tà giáo
tạo nên phương hại cho tín ngưỡng, là những hiện tượng rất đáng lo âu.
Vì không để cho người tín ngưỡng thuần chân lầm vào tà giáo mà bị thọ
hại, chúng ta nên tích cực hoằng dương chánh pháp của đức Phật, nhất là
nên tận lực lợi dụng môi trường truyền thông tiện lợi của khoa học kỹ
thuật tân tiến để hoằng dương Phật Pháp nhằm thu đạt hiệu quả lớn hơn.
Theo như báo chí đang tin: Có một đoàn thể tà giáo đã lợi dụng mạng lưới
thông tin điện toán toàn cầu để truyền bá tà thuyết của họ. Nhưng trong
Phật giáo chính thống, những người gánh trọng trách hoằng pháp vẫn có
thể không nghĩ đến cách áp dụng mạng lưới điện toán toàn cầu làm phương
tiện hoằng dương Phật Pháp.
Phật Pháp có “Pháp tánh chi pháp” và
“Giáo pháp chi pháp” là hai loại Pháp rất ý nghĩa. “Pháp tánh chi Pháp”
tức là chân lý, chân lý là vĩnh hằng tánh, phổ biến tánh, là ‘lịch tam
thế nhi bất dịch, phóng chư thập phương nhi giai chuẩn” (trải qua ba đời
không thay đổi, thả khắp mười phương vẫn đều đúng), cho nên không có sự
phân biệt thời đại và khu vực. Còn “Giáo pháp chi pháp” là phương pháp
Phật Đà giáo hoá chúng sanh, đức Phật vì để thích ứng với các căn tính
khác nhau của chúng sanh, đã rộng rãi thi hành các loại giáo pháp khác
nhau, và các loại chúng sanh có căn tánh khác nhau cũng đã có sự hấp thụ
giáo bất đồng.
Từ vĩnh hằng tánh, phổ biến
tánh của chân lý mà suy ra, hai ngàn mấy trăm năm trước, vào thời đại
đức Phật vì nền khoa kỹ chưa có, nên ngài đã dùng những giáo Pháp như
Tam Pháp Ấn, Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Nhiếp, Lục Độ v.v... để hoá
độ chúng sanh. Đến thời đại này, dù khoa kỹ phát đạt, mức độ trí thức
nhân loại được nâng cao, vẫn phải dùng Tam Pháp Ấn cho đến pháp môn Lục
Độ của Bồ Tát để độ sanh, bởi vì chân lý không thể vì thời đại mà thay
đổi. Còn từ “Giáo hóa chi pháp” mà nói, thì phải ở trong nguyên tắc chân
lý không thay đổi ấy, áp dụng khoa kỹ hiện đại, vận dụng các loại phương
tiện, tùy cơ thi giáo, hoằng dương chánh pháp nhằm dẫn đạo chúng sanh
bước hướng đến con đường lớn sáng sủa của nhân sinh, để từ đó kiến thiết
nhân gian tịnh độ, một thế giới an lạc ngay trên địa cầu này.
Thế kỷ thứ 21 là thế kỷ của tôn giáo,
khi những phần tử trí thức đối với khoa học cuối cùng bị tuyệt vọng nên
chuyển hướng sang Phật giáo để truy cầu chân đế nhân sinh, chúng ta phải
đáp ứng thế nào để thỏa mãn nguyện vọng ấy của họ. Đây là vấn đề vô cùng
nghiêm túc đối với người mang trọng trách hoằng pháp cần nên chuẩn bị.
Ngoài ra, các vấn đề trong xã hội đều là vấn đề của con người, mà vấn đề
con người tức là vấn đề tâm thức. Trong kinh Duy Ma dạy: “Dục tịnh kỳ đô,
tiên tịnh kỳ tâm, tùy kỳ tâm tịnh, tắc quốc độ tịnh” (Muốn tinh sạch
đất ấy, trước tiên cần gội sạch tâm đã, theo tâm tịnh sạch ấy, thì quốc
độ tinh sạch). Tịnh hóa nhân tâm, tinh lọc tâm thức con người, là căn
bản giải quyết mọi vấn đề của nhân loại thế giới, chúng ta nên ghi nhớ
rằng đức Phật ban cho chúng ta cái nhiệm vụ vô cùng cao cả, đó là “Tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh.”

|
|
|